Tập 59: Sau trận Thiền Châu, nước Tống và Liêu thiết lập nghị hòa

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 26/09/2026

Năm 1004, Liêu Thái hậu và Liêu Thánh Tông – Gia Luật Long Tự đã dẫn quân nam hạ, thân chinh thống lĩnh 20 vạn đại quân tấn công Bắc Tống, trên đường đi liên tiếp công thành phá trại. Quân báo khẩn cấp liên tiếp truyền về kinh thành. Khấu Chuẩn kiên quyết chủ chiến, đồng thời thuyết phục Tống Chân Tông ngự giá thân chinh. Khi hoàng đế đích thân tới tiền tuyến, sĩ khí quân Tống tăng mạnh.

Thực ra, trận Thiền Châu còn chưa chính thức khai chiến thì có thể đã coi như kết thúc. Có hai nguyên nhân: một là quốc sách của nước Liêu, hai là năng lực phòng ngự của nhà Tống.

Xét về thực lực quân sự lúc bấy giờ, nước Liêu hoàn toàn không đủ khả năng nuốt trọn Bắc Tống, mà bản thân nước Liêu cũng không thực sự có ý đồ chiếm cứ toàn bộ lãnh thổ Đại Tống. Trước đó, khi kể về khoảng thời gian thành lập Hậu Tấn trong thời Ngũ Đại Thập Quốc, chúng tôi từng nhắc đến việc Liêu Thái Tông – Gia Luật Đức Quang đã từng tiến vào và chiếm đóng Lạc Dương, thế nhưng chỉ 2 tháng thì rút quân. Nếu Liêu Thái Tông thực sự có ý muốn tranh đoạt Trung Nguyên, thì đã không từ bỏ Lạc Dương mà rút quân về bắc.

Thực ra, khí hậu là một nguyên nhân rất lớn. Người phương bắc đặc biệt e ngại cái nóng ẩm của phương nam. Dù cho Lạc Dương nằm phía bắc Hoài Hà, trong quan niệm người Trung Hoa vẫn được coi là phương bắc, nhưng đối với người Khiết Đan thì đã là quá xa về phía nam.

Về sau cũng có thể thấy rõ điều này: sau khi Bắc Tống diệt vong, thì tại vùng Trung Nguyên, nhà Kim đã lập ra một chính quyền gọi là “ngụy Tề” để làm vùng đệm giữa Nam Tống và Kim, cũng vì họ cảm thấy mùa hè ở Trung Nguyên là quá nóng, nên không muốn ở lại. Đến thời nhà Thanh, hoàng đế Khang Hi cho xây dựng sơn trang tránh nóng ở Thừa Đức, hoàng đế Càn Long cho xây Thanh Y viên, tức là Di Hòa Viên sau này, cũng bởi vì đến mùa hè thì ngay cả Bắc Kinh đối với họ cũng trở nên quá nóng.

Bởi vậy mới thấy, Di Hòa Viên trong tiếng Anh được gọi là “Summer Palace”, tức là “cung điện mùa hè”, hay nói thẳng ra là nơi để tránh nóng.

Một nguyên nhân nữa là dân số của nước Liêu quá ít. Giả sử nước Liêu có thể huy động khoảng 100 vạn binh lực, mà đối với một dân tộc du mục, nơi mà hầu như toàn bộ thanh niên đều có thể ra trận, thì 100 vạn quân ấy chính là một trăm vạn tráng đinh.

Nếu giả định mỗi gia đình có ba đến bốn người, vậy tổng dân số nước Liêu đại khái chỉ vào khoảng 4 trăm vạn, nhiều lắm cũng không vượt qua 6 trăm vạn. Trong khi đó, khi chiến sự Thiền Uyên bùng nổ, Bắc Tống đã có gần 7 trăm vạn hộ, ít nhất cũng hơn 2500 vạn nhân khẩu.

Bởi vậy, đối với nước Liêu mà nói, nếu muốn chiếm lĩnh toàn bộ Bắc Tống thì chỉ có hai khả năng: hoặc là chinh phục trong thời gian ngắn để cướp bóc tài phú rồi rút về thảo nguyên, hoặc là sẽ bị Hán hóa, dần dần dung nhập vào văn minh Trung Nguyên.

Có lẽ khi ấy Liêu Thái hậu và Liêu Thánh Tông – Gia Luật Long Tự trên thực tế là muốn “lấy công làm thủ”, tức là lấy tiến công để tự bảo toàn. Để có thể lấy công làm thủ thì có hai phương thức: một là chiếm cứ Yên Vân thập lục châu, khiến Bắc Tống không thể vượt qua Thái Hành Sơn và Yên Sơn để tấn công nước Liêu, hai là ký kết hòa ước, khiến hai nước vĩnh viễn không còn chiến tranh.

Năm 1003, tức là một năm trước trận Thiền Châu, tướng nhà Tống là Vương Kế Trung đã bị quân Liêu bắt giữ. Vương Kế Trung rất mong muốn thúc đẩy hòa bình giữa Tống và Liêu, vậy nên đã không ngừng du thuyết với Tiêu Thái hậu.

Tục Tư Trị Thông Giám quyển 24 chép rằng: “Sau khi Vương Kế Trung sang Liêu, cứ có cơ hội là ông sẽ trình bày với người Liêu về lợi ích của việc hòa hảo, Tiêu Thái hậu vốn cũng có ý chán chiến tranh, tuy rằng đại quân vẫn nam hạ, nhưng đồng thời cũng tiếp nhận kiến nghị của ông”.

Trước khi khai chiến, Tiêu Thái hậu từng bí mật gửi thư cho Tống Chân Tông. Nhưng vì Tống Chân Tông chưa xác định được thành ý của Tiêu Thái hậu, nên đã không hồi đáp, từ đó mới dẫn đến việc bùng nổ trận Thiền Uyên.

Đến khi trận Thiền Châu chính thức bùng nổ, bên phía nước Liêu, quốc thống quân sứ Tiêu Thát Lẫm đã ỷ vào dũng khí của mình, dẫn theo khinh kỵ đi thị sát địa hình quanh thành Thiền Châu. Tiêu Thát Lẫm chính là người năm xưa từng phục binh ngoài thành Sóc Châu, khiến Dương Nghiệp tử trận.

Không ngờ hành tung của Tiêu Thát Lẫm đã bị quân thủ thành nhà Tống phát hiện, họ liền dùng sàng tử nỏ để bắn. Đây là một loại nỏ lớn có tầm bắn rất xa, không dùng sức người kéo dây mà vận hành bằng giảo bàn, sử dụng trục quay thì mới có thể lên dây. Chỉ nghe cái tên “sàng tử nỏ” thì cũng đủ biết: thân nỏ dài như một chiếc giường, thậm chí còn dài hơn, mỗi mũi tên dài ít nhất cũng phải hơn một mét.

Cơ cấu nỏ thời đó thậm chí có thể đủ mạnh để bắn mũi tên cắm sâu vào tường thành, binh sĩ không cần dùng thang mây, họ có thể trực tiếp bám vào mũi tên để leo lên thành. Đến thời nhà Tống, tầm bắn xa nhất của sàng tử nỏ có thể đạt tới 1500 mét, gần như tương đương với pháo binh thời sau.

Khi ấy, Tiêu Thát Lẫm tưởng rằng mình đang đứng ngoài tầm bắn của cung thủ nhà Tống, nào ngờ lại trúng phải sàng tử nỏ. Mũi tên bắn tới, xuyên trúng trán của Tiêu Thát Lẫm, ông lập tức ngã khỏi ngựa. Bọn thủ hạ thấy thế thì kinh hãi, vội vàng đưa chủ tướng về doanh trại, nhưng ngay trong đêm thì khí tuyệt mà chết. Tiêu Thái hậu vô cùng đau xót vì mất đi dũng tướng, suốt năm ngày liền không thiết triều.

Tiêu Thát Lẫm vốn là người chủ trương cứng rắn, ông rất kiên quyết trong cuộc chiến tiến công nước Tống. Cái chết của ông khiến sĩ khí quân Liêu suy giảm rõ rệt, lại thêm việc Tống Chân Tông thân chinh ra trận, khiến quân Tống khí thế tăng mạnh, vì vậy Tiêu Thái hậu đã bắt đầu chuẩn bị nghị hòa.

Tống Chân Tông phái Tào Lợi Dụng đến doanh trại quân Liêu để đàm phán, bên phía nước Liêu cũng phái sứ giả sang để thương nghị. Nước Liêu yêu cầu Bắc Tống phải cắt nhượng vùng đất phía nam Ngõa Kiều Quan, lấy cớ rằng vùng đất này là do Hậu Tấn trước kia đã cắt nhượng cho Liêu, nhưng sau lại bị Hậu Chu Thế Tông – Sài Vinh đoạt lại, nên nay Bắc Tống phải hoàn trả.

Sau khi nghe sứ giả trình bày, Tống Chân Tông đáp rằng: “Trẫm giữ gìn cơ nghiệp tổ tông, không dám để mất. Việc trả đất, danh nghĩa hoàn toàn không chính đáng, nếu cứ ép buộc, trẫm tất sẽ quyết chiến! Chỉ vì nghĩ đến sinh linh Hà Bắc nhiều lần chịu khổ vì binh đao, nếu mỗi năm dùng vàng lụa để bù đắp phần thiếu thì cũng không tổn hại đến thể diện triều đình. Nội dung trả lời không cần ghi thành văn, chỉ bảo Tào Lợi Dụng và Hàn Kỷ khẩu truyền là được”.

Lập trường của Tống Chân Tông rất rõ ràng: tuyệt đối không thể cắt đất, vì làm mất lãnh thổ tổ tông thì sẽ tổn hại uy danh Đại Tống, nhưng việc tặng tiền thì có thể chấp nhận. Xưa kia nhà Hán cũng từng hòa thân với Hung Nô, mỗi năm cũng cấp cho tiền lụa, gọi là “ban tặng”, danh nghĩa cũng không đến nỗi khó nghe, coi như ban thưởng cho nước láng giềng nghèo khó.

Tống Chân Tông còn dặn rằng điều kiện cụ thể không cần ghi vào văn thư, chỉ để Tào Lợi Dụng và Hàn Kỷ khẩu truyền là đủ. Bên phía nước Liêu thấy thái độ của Chân Tông kiên quyết như vậy, thì cũng không còn cố chấp đòi vùng Quan Nam nữa, vấn đề còn lại chỉ là mỗi năm có thể nhận được bao nhiêu tiền từ Bắc Tống mà thôi.

Trước khi Tào Lợi Dụng lần thứ hai sang Liêu, ông đã đích thân hỏi Tống Chân Tông rằng mức tối đa triều đình có thể chấp nhận là bao nhiêu. Tống Chân Tông đáp: “Nếu thật sự bất đắc dĩ, thì dù 100 vạn lượng bạc cũng có thể chấp nhận”. Ý là, nếu không còn cách nào khác, thì mỗi năm cấp cho Liêu một trăm vạn lượng bạc cũng được.

Thế nhưng khi Tào Lợi Dụng vừa ra khỏi cung, Khấu Chuẩn liền gọi ông đến đại trướng, nói rõ: “tuy hoàng thượng đã chấp nhận mức 100 vạn, nhưng nếu ngươi đàm phán vượt quá 30 vạn, khi trở về ta sẽ chém đầu ngươi”.

Cuối cùng Tào Lợi Dụng đã đàm phán thành công, hai nước kết liên minh, đó chính là “Thiền Uyên chi minh” trong lịch sử. Nội dung hòa ước gồm bốn điều.

Thứ nhất, Tống và Liêu kết làm hai nước huynh đệ. Vì Liêu Thánh Tông – Gia Luật Long Tự còn nhỏ tuổi, nên tôn Tống Chân Tông làm huynh; về sau các đời kế tiếp vẫn căn cứ theo tuổi tác mà định ra thứ bậc. Điều này đối với Trung Nguyên thì cũng là giữ được thể diện.

Thứ hai, đôi bên lấy sông Bạch Câu làm ranh giới, nước Liêu từ bỏ Toại Thành cùng ba châu gồm Trác châu, Doanh Châu, Mạc Châu. Đây đều thuộc phạm vi Yên Vân thập lục châu, nay tương ứng với khu vực phía bắc Trác Châu, Hà Gian và Nhậm Khâu thuộc Hà Bắc. Hai nước sẽ lui binh, từ đó về sau, nếu có đạo tặc hoặc tù nhân vượt biên giới, đôi bên không được che giấu dung túng. Các thành trì dọc biên giới vẫn giữ nguyên như cũ, không xây mới, cũng không luyện binh chuẩn bị chiến tranh, để biểu thị hòa hiếu giữa hai nước.

Thứ ba là số lượng “tuế tệ”: mỗi năm nước Tống sẽ cấp cho nước Liêu khoản “trợ phí” gồm 10 vạn lượng bạc và 20 vạn tấm lụa. Thứ tư, hai bên đặt các “giác trường” ở khu vực biên giới để mở thông việc buôn bán, tiến hành mậu dịch qua lại.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Lưỡng Tống phồn hoa.

Có một điều kỳ lạ xảy ra vào ngày 25/04/1999, đến nay vẫn chưa có lời giải đáp. Đó là một tình tiết trong câu chuyện giữa thủ tướng Trung Quốc thời bấy giờ là ông Chu Dung Cơ và 3 học viên Pháp Luân Công đi cùng ông vào bên ...

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>