Tập 64: Tây Hạ hòa hoãn với Bắc Tống, Phú Bật đi xứ nghị hòa

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 28/09/2026

Vào năm 1038, Lý Nguyên Hạo xưng đế, lập nên nước Tây Hạ, từ đó Tây Hạ liên tiếp xảy ra xung đột quân sự với Bắc Tống. Lúc đầu, quân Tây Hạ đã nhiều lần đại phá quân Tống. Nhưng về sau, Phạm Trọng Yêm cùng các tướng trấn thủ biên ải đã áp dụng chiến lược phòng thủ vững chắc, lại có danh tướng Địch Thanh dũng mãnh thiện chiến, khiến cho quân Tây Hạ không còn chiếm được ưu thế, binh lực cũng ngày càng mệt mỏi, kiệt quệ.

Sau trận đánh ở Hảo Thủy Xuyên, Tây Hạ không còn phát sinh những trận đại chiến với Bắc Tống, bên phía Bắc Tống cũng tập trung vào việc xây dựng thành trại, luyện binh phòng thủ. Khi này hai bên bước vào giai đoạn giằng co, cục diện dần trở nên bất lợi cho Tây Hạ.

Bởi lẽ, Bắc Tống có quốc lực giàu mạnh, sản vật phong phú, chỉ cần không có ngoại địch xâm nhập thì đời sống bách tính vẫn rất an ổn. Còn Tây Hạ thì khác, nơi đây sản vật khan hiếm, nếu muốn thứ tốt thì phải sang Bắc Tống để mua. Trước khi cuộc chiến giữa Tống và Tây Hạ bùng nổ, hai bên vẫn qua lại buôn bán, nhưng khi chiến sự nổ ra, những khu chợ biên giới bị gián đoạn, đời sống bách tính Tây Hạ lập tức sa sút, vật giá tăng vọt, một thước vải có thể bán đến vài trăm tiền, khiến người dân oán thán không ngớt.

Kỳ thực, Tống Nhân Tông cũng không muốn mỗi năm phải tiêu tốn quá nhiều chi phí quân sự để phòng thủ biên cương với Tây Hạ. Vì vậy, vào mùa đông năm Khánh Lịch nguyên niên (tức năm 1041), nhân dịp đại lễ tế trời, triều đình đã đặc biệt ban chiếu thư tỏ ý khoan dung, đồng thời không cho quân Bắc Tống chủ động xuất kích. Thực chất đây là gửi tín hiệu cho Tây Hạ, mở cho họ một con đường để xuống thang.

Bên phía Tây Hạ, Lý Nguyên Hạo cũng nhận ra rằng không thể thôn tính Bắc Tống, chi bằng nhân cơ hội này xưng thần, đổi lại thì hàng năm sẽ có thể nhận được tiền từ nhà Tống, cũng giống như nước Liêu khi trước. Vì thế, vào tháng giêng năm Khánh Lịch thứ ba (tức năm 1043), Lý Nguyên Hạo viết thư cho Nhân Tông, trong thư ông tự xưng là “Khả Hãn”, đồng thời gọi Tống Nhân Tông là “phụ hoàng đế”, tức là có ý tôn Tống Nhân Tông làm cha. 

Sau hơn một năm thương nghị, đến năm 1043, Bắc Tống chính thức phong Lý Nguyên Hạo làm quốc vương nước Tây Hạ, mỗi năm nhà Tống sẽ ban cho nước Tây Hạ: 7 vạn 2 nghìn lượng bạc, 15 vạn 3 nghìn tấm lụa, cùng 3 vạn cân trà, đồng thời hai bên khôi phục lại việc buôn bán nơi biên cảnh.

Vào niên hiệu Khánh Lịch dưới thời Tống Nhân Tông, cục diện Trung Hoa thực chất là mối quan hệ 3 phía giữa Tống, Tây Hạ và Liêu. Khi Bắc Tống và Tây Hạ phát sinh xung đột, thì hoàng đế nước Liêu là Liêu Hưng Tông liền muốn thừa cơ để trục lợi.

Liêu Hưng Tông gửi thư cho Bắc Tống, nói rằng Tây Hạ là thuộc quốc của Liêu, vậy cớ sao chưa được nước Liêu cho phép mà lại đem quân đánh Tây Hạ? Lời lẽ này thực chất là mang ý muốn thừa nước đục thả câu. Ngoài ra, nước Liêu còn đưa ra một yêu sách khác: cho rằng những vùng đất năm xưa mà Thạch Kính Đường đã cắt nhượng cho Liêu, nay đã bị Bắc Tống chiếm giữ, vì vậy yêu cầu Bắc Tống phải trả lại 10 huyện ở phía nam Ngõa Kiều Quan.

Khi Tống Nhân Tông nhận được bức thư này là vào năm 1042, tức là một năm trước khi ký hòa ước với Tây Hạ. Lúc ấy, Tống Nhân Tông vì phải đối phó với Tây Hạ nên đã mệt mỏi không kham nổi, vậy nên ông tuyệt đối không muốn cùng lúc phải giao chiến với Liêu. Vì vậy, hoàng đế phái Phú Bật đi sứ sang Liêu.

Phú Bật là một nhân tài ngoại giao hiếm có, đối với những yêu sách vô lý của nước Liêu, Phú Bật đã cứng rắn bác bỏ từng điều một, ông giữ vững nguyên tắc: tuyệt đối không cắt đất để cầu hòa. Phú Bật nói rằng: “Năm xưa khi lập minh ước Thiền Uyên, Tống và Liêu kết làm quốc gia huynh đệ. Nếu nay cắt đất cho Liêu, đối với các ngươi là vinh, nhưng đối với chúng ta lại là nhục. Các ngươi hãy đặt mình vào hoàn cảnh ấy mà nghĩ, chúng ta sao có thể chịu nổi nỗi nhục đó? Lại nói, nếu vin vào việc năm xưa Thạch Kính Đường từng cắt đất mà nay bắt nước Tống phải hoàn trả, vậy nếu truy xét xa hơn về lịch sử, thì những vùng đất mà Liêu đang chiếm vốn cũng là của người Hán, sao các ngươi không trả lại đi?”

Phú Bật lúc ấy lập luận có lý có tiết, khiến người Liêu cũng không thể phản bác. Hơn nữa, bên phía Bắc Tống cũng bày ra thế trận sẵn sàng vì bảo vệ lãnh thổ mà không tiếc một trận quyết chiến, hoàng đế cho lập “Bắc Kinh” tại Đại Danh phủ ở Hà Bắc.

Tên gọi ‘Bắc Kinh’ này dễ khiến người đời sau hiểu lầm, bởi khi ấy Bắc Tống có bốn đại thành thị quan trọng, đều được gọi là “kinh”. Khai Phong là Đông Kinh, Lạc Dương ở phía tây Khai Phong nên gọi là Tây Kinh, Ứng Thiên phủ (nay là Thương Khâu, Hà Nam) được gọi là Nam Kinh, còn Đại Danh phủ ở phương bắc thì gọi là Bắc Kinh. Tức là hình thành cục diện bốn kinh thành, gồm Đông – Tây – Nam – Bắc.

Động thái này có hàm ý quân sự rất rõ rệt, chính là lập một trọng trấn quân sự ở vị trí rất gần nước Liêu, nhằm tăng cường phòng bị nơi biên thùy.

Phía triều đình nước Liêu đã cân nhắc lợi hại, thấy rằng nếu khai chiến với Bắc Tống thì: một là không nắm chắc phần thắng, hai là tổn thất của nước Liêu cũng sẽ rất lớn, ba là cũng không có lý do chính đáng nào để tiến đánh, sẽ khó ăn nói với người trong thiên hạ. Vì thế, nước Liêu chuyển sang đàm phán với Bắc Tống, đưa ra điều kiện muốn được kết thông gia.

Thế nhưng Phú Bật không chấp thuận. Bởi vì Tống Nhân Tông đã định sẵn giới hạn rằng: có thể tặng thêm tiền cho nước Liêu, nhưng sẽ không gả công chúa. Phú Bật nói rằng hoàng đế tuy có một công chúa nhưng chỉ mới bốn tuổi, nếu muốn kết thân thì cũng phải đợi hơn 10 năm nữa. Vả lại, nếu công chúa xuất giá, sính lễ tối đa dành cho nước Liêu cũng chỉ là 10 vạn lượng bạc, mà cũng chỉ cấp một lần.

Triều đình nước Liêu suy tính, thấy như vậy cũng không có lợi, bèn bỏ ý định kết thông gia, rồi chuyển sang yêu cầu Bắc Tống phải gửi thêm tiền. Cuối cùng, Tống Nhân Tông chấp thuận mỗi năm tặng thêm cho nước Liêu 10 vạn lượng bạc và 10 vạn tấm lụa, để có thể duy trì hòa bình. Số tiền mà nhà Tống phải gửi cho nước Liêu hàng năm gọi là ‘tuế tệ’, đây có thể gọi là ban tặng cũng được, có thể gọi là cống nạp cũng được. Mặc dù có thể mất mặt, nhưng triều đình nhà Tống đã có thể tránh được chiến tranh, người dân sẽ giảm bớt áp lực, sẽ bớt đi cảnh sinh linh đồ thán.

Nhờ đó, Phú Bật ký kết hòa ước với nước Liêu: không cắt đất, không hòa thân, nhưng tăng thêm tuế tệ tổng cộng 20 vạn. Sử gọi đây là “Phú Bật chi minh”. Tuy rằng chuyến đi sứ này đối với Bắc Tống có phần nhục nhã, nhưng lại giữ được vùng Quan Nam, có thể nói đó đã là kết quả tốt nhất mà Phú Bật có thể tranh thủ được.

Phú Bật vốn là người do Phạm Trọng Yêm tiến cử. Khi ấy ông còn là thiếu niên, Phạm Trọng Yêm vừa gặp đã kinh ngạc mà nói: “Đây là bậc kỳ tài có thể giúp vua trị quốc.” Rồi Phạm Trọng Yêm đem văn chương của Phú Bật cho Vương Tằng và Yến Thù xem. Sau đó, Yến Thù còn gả con gái cho Phú Bật. Phạm Trọng Yêm lại khuyên Phú Bật đi thi khoa cử. Từ đó, Phú Bật bước vào chốn quan trường, cuối cùng làm đến chức tể tướng, trở thành trụ cột của triều đình.

Bởi vậy, Phạm Trọng Yêm quả thực có con mắt nhìn người. Ông còn ảnh hưởng đến một nhân vật nổi tiếng khác là Trương Tái.

Thuở thiếu niên, Trương Tái rất thích bàn luận binh pháp. Năm 21 tuổi, ông đến yết kiến Phạm Trọng Yêm. Chỉ vừa mới gặp, Phạm Trọng Yêm đã biết người này tương lai tất sẽ có thành tựu lớn, nếu chỉ làm tướng thì thật là uổng phí, Phạm Trọng Yêm nói: “Người học Nho tự có danh giáo mà vui, cần gì đến binh đao?” Ý là trong sách thánh hiền mới có niềm vui chân chính, hà tất phải học binh pháp. Ông khuyên Trương Tái hãy đọc “Trung Dung”.

Về sau, Trương Tái trở thành một trong “Bắc Tống ngũ tử”, uy danh sánh cùng với anh em họ Trình, Chu Đôn Di và Thiệu Ung, ông là một trong những người đặt nền móng quan trọng cho Tống Minh Lý học, đây là triết học trong thời nhà Tống và Minh.

Còn về phía cục diện quốc tế, không lâu sau khi Bắc Tống lần lượt đạt được thỏa thuận với Liêu và Tây Hạ, thì nước Liêu và Tây Hạ lại giao chiến với nhau. Trước khi xưng đế, Lý Nguyên Hạo từng nhận sắc phong của hoàng đế nước Liêu là Liêu Hưng Tông, ông được phong làm quốc vương nước Hạ, đồng thời cũng cưới chị gái của Liêu Hưng Tông là Hưng Bình công chúa.

Nhưng quan hệ giữa Lý Nguyên Hạo và công chúa không hòa thuận. Sáu năm sau, Hưng Bình công chúa đột nhiên qua đời. Liêu Hưng Tông phái người sang trách tội, từ đó mối quan hệ bang giao giữa hai nước đã bắt đầu nảy sinh rạn nứt.

Đến năm Khánh Lịch thứ ba (tức năm 1043), sau khi Bắc Tống và Tây Hạ ký kết hòa ước, thì tại vùng biên giới giữa Liêu và Tây Hạ, một số bộ lạc vốn thuộc Liêu đã nổi dậy tạo phản, quay sang quy phục Tây Hạ. 

Vì thế, mùa đông năm sau, Liêu Hưng Tông huy động đại quân chia làm ba đường để tiến đánh Tây Hạ. Phía Tây Hạ lo ngại không thể địch nổi, bèn dâng thư tạ tội, mong được cầu hòa. Nhưng các tướng nước Liêu cho rằng đại quân đã tập kết xong, cần phải cho Tây Hạ biết uy, vì thế vẫn quyết định xuất binh.

Tây Hạ liền dùng kế dụ địch thâm nhập, “kiên bích thanh dã”, dẫn quân Liêu tiến sâu vào nội địa, đồng thời phá sạch nguồn tiếp tế. Đợi đến khi quân Liêu người mệt ngựa mỏi, Tây Hạ mới bất ngờ phản kích. Sách Tục Tư trị thông giám chép rằng: “Gió lớn bỗng nổi, cát bay mù trời”, khiến quân Liêu không thể mở mắt, vì thế mà đại bại. Liêu Hưng Tông vội vã phá vòng vây mà chạy thoát.

Lý Nguyên Hạo ra lệnh không được truy kích. Trong vài năm tiếp theo, Liêu và Tây Hạ vẫn còn giao chiến vài lần, nhưng thắng bại xen kẽ. Cuối cùng, hai bên đều nhận ra rằng  không thể tiêu diệt lẫn nhau, nên bèn khôi phục lại mối quan hệ bang giao hữu hảo.

Chiến sự giữa Bắc Tống và Tây Hạ đã tạm thời kết thúc, tranh chấp với Liêu cũng được giải quyết thông qua ngoại giao và việc tăng thêm ‘tuế tệ’. Nhưng lúc này, Tống Nhân Tông nhận thấy chính sự trong nước cũng tồn tại những vấn đề nghiêm trọng, vì thế ông quyết định trọng dụng Phạm Trọng Yêm để tiến hành cải cách.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Lưỡng Tống phồn hoa.

Gần đây hai chữ “tu luyện” được sử dụng nhiều trong cuộc sống hằng ngày, dường như chỉ trải qua một chút nỗ lực và mài dũa, liền có thể đạt được mục tiêu nào đó trong cuộc sống. Thực ra, hai chữ “tu luyện” này là câu trả lời cho ...

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>