Tập 65: Địch Thanh dẹp tan cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 28/09/2026

Năm 1049, ở phía Nam nhà Tống đã bùng phát cuộc nổi dậy của Nùng Trí Cao, khởi binh ở phía tây Nam Ninh, thuộc Quảng Tây ngày nay, rồi một đường tiến về phía đông, liên tục công thành phá trại, tiến đến bao vây Quảng Châu, khiến triều đình nhà Tống chấn động.

Ở phần trước, chúng tôi đã kể về cuộc chiến giữa Bắc Tống và Tây Hạ. Trong triều đại của Tống Nhân Tông, chiến tranh chủ yếu gồm có hai mặt trận: cuộc chiến với Tây Hạ, và chiến dịch dẹp loạn Nùng Trí Cao ở vùng Lưỡng Quảng.

Từ thời Tần Thủy Hoàng đã thực hành chế độ quận huyện. Nhưng theo đà lãnh thổ ngày càng mở rộng, từ thời Hán trở đi hình thành hệ thống ba cấp: châu, quận, huyện; đến thời Đường thì đổi thành đạo, châu, huyện. Đến thời Bắc Tống, cơ cấu ba cấp được gọi là lộ, châu, huyện, tức là lấy nhiều châu hợp lại thành một đơn vị hành chính lớn hơn gọi là “lộ”.

Vùng Lưỡng Quảng được chia thành Quảng Nam Tây lộ và Quảng Nam Đông lộ. Quảng Nam Tây lộ chính là khu vực Quảng Tây ngày nay, khi ấy gọi là Ung Châu.

Phía tây Ung Châu, tức là khu vực tỉnh Vân Nam ngày nay, tồn tại một quốc gia độc lập tên là Đại Lý. Còn phía nam Ung Châu, từ thời Hán từng đặt ra quận Giao Chỉ, tức là vùng Việt Nam ngày nay, nhưng đến cuối thời Đường, từ thời loạn Nam Chiếu, Giao Chỉ đã thoát ly khỏi Trung Quốc và trở thành một quốc gia độc lập, khi này xưng là Đại Cồ Việt.

Vì vậy, Ung Châu nằm ở vị trí giao giới giữa ba nước Bắc Tống, Đại Lý và Đại Cồ Việt. Mà Quảng Tây chính là nơi các dân tộc thiểu số tụ cư, trong cách gọi của người Trung Hoa cổ đại thì họ được gọi là “Nam Man”.

Trong các bộ tộc ấy, một số gia tộc có thế lực khá mạnh, họ Nùng là một trong số đó, gia tộc này chiếm cứ vùng Quảng Nguyên Châu. Khu vực này nay thuộc tỉnh Cao Bằng của Việt Nam, giáp với huyện Tĩnh Tây của Quảng Tây, trên danh nghĩa là thuộc nước Đại Cồ Việt.

Nhưng khi ấy, Đại Cồ Việt đánh thuế rất nặng đối với họ Nùng. Vì thế, phụ thân của Nùng Trí Cao đã chiêu binh mãi mã, không chịu xưng thần với Đại Cồ Việt nữa. Kết cục là bị quân Đại Cồ Việt đánh cho đại bại, bị bắt sống rồi chém đầu. Sau đó, Nùng Trí Cao muốn nương tựa vào Bắc Tống, nhưng không được triều đình tiếp nhận. Đến tháng 10 năm 1049, Nùng Trí Cao đã phát binh tấn công Ung Châu.

Và cũng thật bất ngờ, Nùng Trí Cao đã một đường liên tiếp thắng lợi, thế như chẻ tre. Đến năm 1052,  Nùng Trí Cao chiếm được địa bàn chín châu, rồi tiếp tục tiến quân về phía Quảng Châu. Khi tin cấp báo truyền về, Tống Nhân Tông vô cùng lo lắng.

Lúc này, Địch Thanh chủ động xin được ra trận, ông tâu với Tống Nhân Tông rằng: “Thần xuất thân nơi quân ngũ, ngoài việc giết giặc nơi chiến trường, không có gì khác để báo đáp quốc gia. Nay xin được lĩnh binh, chém đầu nghịch tặc mang về kinh sư.” Tống Nhân Tông nghe xong thì rất vui, liền giao cho Địch Thanh toàn quyền xử lý việc bình định ở Quảng Nam.

Bấy giờ, thế lực của Nùng Trí Cao rất mạnh, bên phía Đại Cồ Việt cũng phái người sang liên lạc với Bắc Tống, đề nghị hai nước liên thủ để cùng đánh dẹp. Thế nhưng Địch Thanh kiên quyết từ chối, ông tâu với Tống Nhân Tông rằng: “Nùng Trí Cao là nội loạn của Bắc Tống chúng ta. Nếu dẫn quân ngoại quốc vào trong lãnh thổ, dẫu có diệt được Nùng Trí Cao, thì khi bọn man di ở lại làm loạn trong nước ta, lúc ấy biết xử trí ra sao? Xin bệ hạ hãy từ chối họ, một mình ta cũng đủ đối phó”.

Khi Địch Thanh đến tiền tuyến, tình thế khi ấy rất nghiêm trọng. Bởi vì quân đội Bắc Tống liên tiếp thất bại, sĩ khí vô cùng suy sụp. Địch Thanh nghiêm lệnh các tướng dưới quyền không được tự ý xuất binh.

Thế nhưng ở Quảng Tây, tướng Trần Thự đã tự tiện dẫn 8000 bộ binh đi đánh phản quân, kết cục là bại trận thảm hại tại Côn Luân Quan. Côn Luân Quan nằm ở ranh giới giữa huyện Tân Dương và trấn Côn Luân thuộc Nam Ninh, tương truyền nơi đây do Phục Ba tướng quân Mã Viện thời Hán xây dựng, là cửa ngõ và bình phong của Nam Ninh, địa thế hiểm yếu, dễ thủ khó công.

Địch Thanh nói: “Hiệu lệnh không thống nhất, đó chính là nguyên nhân thất bại của quân đội.” Vì vậy Địch Thanh bắt Trần Thự cùng ba mươi tướng đã tự ý theo Trần Thự xuất binh, chiếu theo tội chiến bại bỏ chạy, kéo ra trước quân môn mà chém đầu. Khi ấy, các tướng khác đều kinh hãi.

Địch Thanh biết rằng trong nội bộ Bắc Tống tất có gian tế của Nùng Trí Cao, nên ông ra lệnh tạm thời án binh bất động, chỉnh đốn mười ngày, điều động lương thảo, bày ra thế thủ. Nùng Trí Cao nhận được tin tức, cho rằng tạm thời Địch Thanh sẽ không tiến quân, nên buông lỏng phòng bị.

Không ngờ ngay ngày hôm sau, Địch Thanh đã hạ lệnh xuất chinh, ngày đêm gấp rút hành quân, chỉ trong một đêm đã vượt qua Côn Luân Quan. Nùng Trí Cao mất đi địa thế hiểm yếu, nên buộc phải quyết chiến, trong khi binh lực của Bắc Tống lại đông hơn rất nhiều.

Và thế là một trận đánh thảm khốc nổ ra, Địch Thanh cầm cờ trắng chỉ huy kỵ binh hai cánh quân tả hữu hợp kích, tiêu diệt quân địch. Nùng Trí Cao thua trận, vội cho đốt thành rồi bỏ trốn.

Địch Thanh tiến vào thành Ung Châu, có người phát hiện trong đống xác có một thi thể mặc long bào thêu rồng vàng, cho rằng đó chính là Nùng Trí Cao, định dâng biểu lên triều đình để báo công. Thế nhưng Địch Thanh ngăn lại, ông nói: “Làm sao biết đây không phải là mưu kế? Ta thà nói Nùng Trí Cao mất tích, cũng không dám lừa dối triều đình để tham công”.

Về tung tích của Nùng Trí Cao, trong sách sử ghi chép không thống nhất, phần lớn các học giả cho rằng ông đã chạy sang nước Đại Lý, cuối cùng qua đời tại đó.

Khi Địch Thanh tiến đánh Nùng Trí Cao, vì để cổ vũ sĩ khí, ông đã làm một việc rất đặc biệt. Địch Thanh thấy vùng phương Nam có phong tục sùng kính quỷ thần, ông liền nảy ra một kế. Khi dẫn quân qua phía nam Quế Lâm, Địch Thanh làm lễ bái thần cầu phúc. Chỉ thấy ông lấy ra một trăm đồng tiền, miệng lẩm nhẩm khấn rằng: “Lần này xuất binh thắng bại khó lường, nếu có thể chế phục địch, xin thần linh khiến cho tất cả đồng tiền đều rơi mặt ngửa!”

Các quan tả hữu thấy vậy đều ngơ ngác, họ lo rằng nếu tung không ra mặt ngửa, thì sẽ ảnh hưởng đến sĩ khí, họ vội khuyên Địch Thanh không cần làm thế. Nhưng Địch Thanh đã quyết, không ai ngăn được. Ở trước mặt toàn quân, ông vung tay ném một trăm đồng tiền xuống đất. Mọi người xúm lại xem thì thấy cả trăm đồng tiền đều là mặt ngửa. Quan binh thấy vậy, tin là được thần linh phù hộ nên đã reo hò vang dội, chấn động núi rừng, sĩ khí tăng vọt.

Địch Thanh lập tức sai người lấy một trăm chiếc đinh sắt, đóng cố định những đồng tiền ngay tại chỗ rồi phủ vải xanh lên, tự tay niêm phong lại, ông nói: “Đợi đến ngày khải hoàn, ta sẽ trở lại thu hồi.”

Sau khi bình định Ung Châu, Địch Thanh dẫn quân thắng trận trở về phương Bắc, đến nơi đã tung đồng tiền. Các thuộc hạ đào lên xem, mới phát hiện một trăm đồng tiền ấy đều có hai mặt giống nhau, lúc đó mọi người mới biết đây chỉ là kế sách để khích lệ lòng quân. Câu chuyện này về sau được ghi chép trong sách Tam thập lục kế, để làm ví dụ cho kế thứ 27 là “Giả si bất điên”.

Mặc dù vậy, việc Địch Thanh lợi dụng lòng tin của binh lính đối với Thần để khích lệ lòng quân, có thể thấy ông không mấy tôn trọng Thần minh. Hành động này có thể coi là mượn danh Thần linh để đạt mục đích quân sự, đó chính là bất kính.

Kết cục của Địch Thanh cũng không mấy tốt đẹp, điều này cũng có liên quan đến quốc sách của Bắc Tống, tức là luôn mang lòng nghi kỵ đối với võ tướng. Hễ ai có năng lực, lại có chút danh vọng, thì triều đình luôn lo sợ họ sẽ sinh lòng phản trắc.

Sau này, Địch Thanh được đề bạt làm Xu mật sứ, tức là chức vụ chỉ huy quân sự cao nhất trong triều đình Bắc Tống. Địch Thanh rất được binh sĩ yêu mến, lại có nhiều chiến công mang màu sắc truyền kỳ, nên trong Tống sử chép rằng: Địch Thanh giữ chức Xu mật sứ suốt bốn năm, mỗi khi ông xuất hiện, binh sĩ đều chỉ vào ông mà tán dương.

Tuy nhiên, các gián quan lại nhiều lần công kích Địch Thanh, nói rằng trong nhà ông “chó mọc sừng, lại nhiều lần xuất hiện dị quang”. Chó là ám chỉ bọn nô bộc, với thân phận thấp kém nhưng lại mọc sừng giống như rồng, ý nói Địch Thanh có dã tâm tạo phản. Một số gián quan đã lấy những điềm lạ để làm cớ buộc tội, rồi xin triều đình điều Địch Thanh ra khỏi kinh sư nhằm “bảo toàn danh dự”. Nhưng Tống Nhân Tông đều không trả lời những lời tấu đó.

Nhưng Địch Thanh hiểu rằng bởi vì hoàng đế không tỏ thái độ khẳng định, cũng không đứng ra bác bỏ những lời đồn ấy, thì thực chất vẫn là chưa thật sự yên tâm. Về sau, triều đình bãi miễn chức Xu mật sứ của Địch Thanh, ban cho tước vị Đồng trung thư môn hạ bình chương sự, đại khái thì tương đương chức quan tể tướng, nhưng lại điều ông ra ngoài, cho làm quan ở Trần Châu. Một năm sau, Địch Thanh lâm bệnh mà qua đời.

Địch Thanh là người cẩn mật, ít nói, mỗi khi mưu tính việc gì đều suy xét kỹ lưỡng về khả năng thành công, chọn đúng thời cơ tất thắng rồi mới hành động. Khi hành quân tác chiến, ông luôn chỉnh đốn quân ngũ trước, thưởng phạt phân minh, lại cùng binh sĩ đồng cam cộng khổ. Vì vậy, dù gặp địch tập kích bất ngờ, cũng không có một binh sĩ nào bỏ chạy.

Địch Thanh tính tình khiêm nhường, ông thường đem công lao nhường cho thuộc hạ, còn bản thân thì lặng lẽ lui về phía sau, khiến cấp dưới vô cùng kính phục nhân cách của ông. Từng có một vị tướng vì bị giáng chức mà uất ức qua đời, Địch Thanh đã dốc sức chu cấp, giúp đỡ gia quyến của người ấy.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Lưỡng Tống phồn hoa.

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>