Tập 66: Bàn về mức chi tiêu trong thời Bắc Tống, tại sao Bắc Tống luôn thiếu hụt ngân sách

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 30/09/2026

Có học giả cho rằng nhà Tống là thời kỳ “tích bần tích nhược”, quốc gia vừa nghèo vừa yếu. Nhưng cũng có người cho rằng Tống là triều đại giàu có nhất trong lịch sử Trung Quốc. Ấn tượng mà Bắc Tống để lại cho hậu thế quả thực rất mâu thuẫn: rốt cuộc triều đại này là giàu hay nghèo?

Có học giả cho rằng nhà Tống là thời kỳ giàu có nhất trong lịch sử Trung Quốc. Xét theo ghi chép trong sử sách, điều này quả thực rất có căn cứ: vào lúc thịnh trị nhất, mỗi năm quốc khố có thể thu tới 15 ngàn vạn mân. Trong khi đó, vào thời Khai Nguyên thịnh thế của nhà Đường, thu nhập quốc gia mỗi năm cũng chỉ khoảng 3 ngàn vạn quán, đến niên hiệu Đại Lịch thời Đường Đại Tông, sau loạn An Sử, thu nhập của triều đình giảm xuống chỉ còn 1200 vạn quán.

Điều này cho thấy, vào thời điểm giàu có nhất, thu nhập của Bắc Tống vượt qua thời Khai Nguyên của nhà Đường gấp hơn năm lần.

Thực ra, sau khi hoàn thành việc thống nhất Nam – Bắc, kinh tế của Bắc Tống đã phục hồi rất nhanh. Đến thời vị hoàng đế thứ hai là Tống Thái Tông, thu nhập tài chính đã đạt khoảng 1600 vạn mân, vượt qua cả thời Đường Đại Tông.

Ở đây chúng tôi cần nói rõ một điểm: thu nhập của Bắc Tống không hoàn toàn là tiền tệ. Con số 15 ngàn vạn mân thực chất là tổng hợp ước tính, bao gồm bạc trắng, lụa, lương thực, tiền đồng, rồi cộng gộp lại mà thành. Thế nhưng cũng đủ thấy rằng Bắc Tống rất giàu có.

Nhưng ở một phương diện khác, Bắc Tống lại dường như rất nghèo.

Trong 3 đời hoàng đế đầu tiên, dưới thời Tống Thái Tổ, Tống Thái Tông và Tống Chân Tông, mỗi năm quốc khố vẫn còn có dư. Nhưng đến thời Tống Nhân Tông thì chỉ có thể miễn cưỡng duy trì cân bằng thu chi.

Có nhiều học giả lịch sử, thậm chí cả các văn thần đương thời, họ đều cho rằng Bắc Tống là một triều đại “tích bần tích nhược”, tức là vừa nghèo vừa yếu. Nói rằng Bắc Tống yếu thì cũng có thể chấp nhận, bởi vì về quân sự đối ngoại, triều đình đã chấp nhận nộp tiền cho nước Liêu và Tây Hạ, để có thể đổi lấy hòa bình. Nhưng vì sao lại nói Bắc Tống là nước nghèo? 

Thực ra, Bắc Tống không phải là một vương triều xa xỉ. Hoàng đế cũng không tiêu xài hoang phí như Tùy Dạng Đế, lại không tiến hành những đại công trình như Đại Vận Hà hay là cung điện Đông Đô. Xét tổng thể, các hoàng đế Bắc Tống đều hết sức tiết kiệm, chỉ có một người là ngoại lệ, đó là Tống Huy Tông. Vậy thì, số tiền khổng lồ mà triều đình thu về rốt cuộc đã được tiêu vào đâu?

Khái quát lại, vấn đề nằm ở 3 điều dư thừa, gồm có: dư binh, dư quan và dư phí. Bắc Tống nuôi quá nhiều quân đội không cần thiết, quá nhiều quan lại không cần thiết, và phát sinh rất nhiều khoản chi tiêu không cần thiết.

Trước hết hãy nói về vấn đề dư binh. Khi Tống Thái Tổ vừa mới lập quốc, trong nước chỉ có khoảng 20 vạn quân, đến cuối thời Thái Tổ thì tăng lên 38 vạn, sang thời Tống Thái Tông là 66 vạn quân, thời Tống Chân Tông có tới 91 vạn, và đến thời Tống Nhân Tông thì đạt con số 125 vạn quân. Vậy tính từ thời Tống Thái Tổ đến Tống Nhân Tông, quân số đã tăng lên gấp sáu lần.

Vì sao nói đó là “dư binh”? Chúng ta có thể đem so sánh với nhà Đường là sẽ thấy rõ.

Vào thời Đường Huyền Tông, trong thời Khai Nguyên thịnh thế, triều đình phải đồng thời giao chiến với các thế lực bên ngoài: phía tây là đế quốc Ả Rập, tây nam là Thổ Phồn và Nam Chiếu, đông bắc là Khiết Đan, phía bắc còn phải phòng ngự Hồi Hột. Lãnh thổ của Đại Đường khi ấy lại rộng gấp Bắc Tống hơn 3 lần. Vậy mà toàn quốc chỉ có khoảng 60 vạn quân, trong đó 49 vạn đóng tại biên cương, thuộc các phiên trấn, còn cấm quân trung ương chỉ khoảng 12 vạn.

Nếu xét theo quy mô lãnh thổ và tình hình chiến sự, thì Bắc Tống chỉ cần khoảng 30 vạn binh sĩ là hợp lý. Thế nhưng đến thời Tống Nhân Tông, quân số lại lên tới 125 vạn, quả thực là dư thừa rất lớn.

Triều đình Bắc Tống đãi ngộ với binh sĩ rất hậu. Từ lúc nhập ngũ cho đến ngoài 60 tuổi đều do triều đình nuôi dưỡng, gần như không có khái niệm nghỉ hưu.

Một binh sĩ cấm quân, mỗi năm thu nhập khoảng 50 mân, ước chừng là năm vạn tiền. Khi ấy tại Khai Phong, trong các quán ăn nhỏ, một món ăn chỉ khoảng 10 – 20 tiền, một đấu gạo giá 40 tiền. 5 vạn tiền là mức thu nhập của quân trung ương, còn quân địa phương thì mỗi năm thu nhập khoảng 30 mân, tức là 3 vạn tiền. Số tiền thu nhập của binh sĩ đã cao hơn so với người dân bình thường, thậm chí có thể nói là khá dư dả.

Vậy mà đây mới chỉ là chi phí thường nhật. Vào thời Tống, cứ 3 năm một lần, hoàng đế ra ngoại ô làm lễ tế Trời, sau đó sẽ ban thưởng cho quan lại và binh sĩ. Đến các dịp lễ tết cũng có thưởng thêm, những binh sĩ đóng quân nơi biên ải cũng sẽ có phụ cấp riêng.

Vì vậy, ngay cả các quan võ cấp thấp của Bắc Tống cũng có thể thuê người hầu, ra phố có tiền để uống rượu thoải mái. Chẳng hạn như Lâm Xung, cấp bậc tương đương một sĩ quan cấp thấp, thế mà cũng có thể xây nhà lầu, lại thuê được người giúp việc.

Đến thời Tống Anh Tông, chi phí quân sự mỗi năm đã lên tới khoảng 5000 vạn mân, chiếm hơn một nửa tổng thu nhập tài chính lúc bấy giờ — tỷ lệ này quả thực là vô cùng khiếp người.

Nếu đem so sánh, nước Mỹ mỗi năm dành 18% cho chi tiêu quốc phòng. Thế mà Bắc Tống dành luôn 50% ngân sách cho chi tiêu quân sự. Đây là mức chi tiêu rất cao, thế nhưng binh lực Bắc Tống lại tỏ ra không mấy hiệu quả.

Trong thời Bắc Tống, chi phí nuôi quan là cũng vô cùng lớn, đãi ngộ dành cho quan viên hết sức hậu hĩnh. Những người làm chức tể tướng hay tiết độ sứ, mỗi tháng nhận bổng lộc 400 quán, lương thực 200 thạch, tính ra mỗi năm tương đương khoảng 7200 mân tiền.

Không chỉ vậy, toàn bộ chi phí ăn mặc của thuộc hạ dưới quyền họ cũng đều là do triều đình chu cấp. Tể tướng và tiết độ sứ được phép có tới một trăm tùy tùng. Ngoài ra còn có đủ loại phụ cấp danh mục như trà, than, củi, nuôi ngựa, nuôi dê… đủ thứ đều do quốc khố gánh chịu.

Triều đình lại còn có những khoản ban thưởng đặc biệt. Cứ 3 năm một lần sẽ có “giao lại”, tức là tiền thưởng thêm. Cấp tể tướng được ban thưởng tới 4000 quán, tương đương gấp 10 lần lương tháng.

Đây không chỉ là vấn đề bổng lộc quan lại hậu hĩnh, mà số lượng quan viên cũng bành trướng cực nhanh. Khi mà thời Tùy – Đường mới mở khoa cử, mỗi năm chỉ khoảng 30 người đỗ tiến sĩ. Nhưng đến thời Tống, khoa thi tiến sĩ cứ ba năm một lần, mỗi kỳ lại tuyển đến 700 người.

Những người này sau khi làm quan, còn có thể cho con cháu tiếp tục làm quan, gọi là “ân ấm”, tức cái gọi là “phong thê ấm tử”. Nếu danh ngạch ấy chưa dùng hết, giả như không có con trai hay anh em để thừa hưởng, thì có thể chuyển cho người bên nhà vợ để họ làm quan. Nếu bên nhà vợ cũng không còn ai, thì lại có thể ban cho môn khách. Cứ như vậy mà suy, số người làm quan tất nhiên sẽ ngày một tăng thêm.

Vào thời Đường Thái Tông, quan viên trung ương chỉ có 643 người. Nhưng đến thời Tống Nhân Tông, con số ấy đã tăng lên tới 2.700 người. Bởi vậy, nạn dư binh và dư quan của Bắc Tống đã nuốt chửng phần lớn nguồn thu tài chính của quốc gia.

Ngoài ra còn có “dư phí”, tức những khoản chi tiêu không cần thiết của triều đình. Như vào thời Tống Nhân Tông, chỉ riêng một lần ban thưởng đã tiêu tốn tới 1200 vạn mân. Nhìn vào đó có thể thấy, tiền bạc của Bắc Tống chẳng khác nào rơi vào hố không đáy, kiếm nhiều nhưng tiêu cũng rất nhiều, cứ thế ào ào trôi đi, không sao giữ lại được.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Lưỡng Tống phồn hoa.

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>