Trong thời Tống Huy Tông, ngoài việc dẹp yên loạn Phương Lạp ở vùng Đông Nam, triều đình còn dụng binh ở Tây Bắc, mà người chủ yếu cầm quân tác chiến vẫn là Đồng Quán – kẻ từng tham gia bình định Phương Lạp.
Thuở trước, khi còn chủ trì ở Cung phụng cục, Đồng Quán đã thường xuyên bóc lột, chiếm đoạt của cải của dân chúng địa phương, nhưng ông ta lại rất được Tống Huy Tông sủng tín.
Khi ấy, trong triều có các phe phái đấu đá tranh giành quyền lực, Sái Kinh đã bị Tăng Bố gạt ra, đẩy xuống Hàng Châu làm quan nhỏ. Sái Kinh vốn là một đại thư pháp gia, ông ta viết thư pháp rất đẹp. Bắc Tống có 4 nhà thư pháp tài năng là Tô Thức, Hoàng Đình Kiên, Mễ Phất, và Sái Kinh. Nhưng vì thanh danh của Sái Kinh quá xấu tệ, về sau người ta đổi thành Thái Tương thuộc thời kỳ đầu Bắc Tống.
Thư pháp và hội họa của Sái Kinh đều rất xuất chúng. Khi đó, Đồng Quán được hoàng đế phái đi tìm kiếm những tác phẩm thư họa kỳ xảo, ông ta đã liên tục gửi thư pháp và tranh vẽ của Sái Kinh về cho Tống Huy Tông. Tống Huy Tông vốn là người say mê nghệ thuật, đối với những tác phẩm này thì vô cùng thưởng thức. Trong các tấu chương, Đồng Quán cũng luôn hết lời ca ngợi Sái Kinh, nên Huy Tông hoàng đế đã triệu Sái Kinh trở về kinh thành. Từ đó, Sái Kinh đã có thể một bước lên mây.
Sau khi được hoàng đế sủng ái, Sái Kinh cảm kích sự tiến cử của Đồng Quán, nên cũng đã không ngừng đề bạt, nâng đỡ cho Đồng Quán.
Sái Kinh có ý muốn mở rộng lãnh thổ để có thêm tài nguyên, nên bắt đầu dụng binh ở phía Tây Bắc, nhằm chiếm lấy Thanh Đường, tức khu vực Tây Ninh thuộc Thanh Hải ngày nay. Sái Kinh nói rằng Đồng Quán từng mười lần đi sứ sang vùng Thiểm Hữu, nên rất am hiểu tình hình nơi đó cũng như năng lực của các vị tướng soái, vì vậy nên ra sức tiến cử Đồng Quán.
Vào năm Sùng Ninh thứ 2 (tức năm 1103) Tống Huy Tông huy động 10 vạn đại quân tiến đánh vùng Tây Bắc, phong Vương Hậu làm thống soái, Đồng Quán làm giám quân. Đại quân tiến đến Hoàng Châu (tức Lạc Đô thuộc Thanh Hải ngày nay). Thế nhưng đúng lúc ấy trong cung phát sinh hỏa hoạn, Tống Huy Tông đoán biết rằng việc xuất binh rất có thể là điềm gở, vậy nên hoàng đế sai người phi ngựa cấp tốc truyền lệnh, yêu cầu Đồng Quán ngừng xuất quân.
Đồng Quán mở thư ra xem qua một lượt rồi nhét luôn vào trong ủng. Thống soái Vương Hậu hỏi chiếu thư viết gì, Đồng Quán đáp: “Bệ hạ mong quân ta xuất binh tất thắng.” Thế rồi hắn ngang nhiên kháng chỉ, ra lệnh cho quân đội xuất kích.
Quân Tống tiến đánh vùng Tây Bắc, nhanh chóng thu phục Hoàng Châu, đánh bại thủ lĩnh người Khương là Đa La Ba, giết chết 2 con trai của ông ta. Đến năm sau, toàn bộ khu vực Hà Hoàng đều được thu vào đất Tống. Nhờ đó, Đồng Quán được thăng chức làm Cảnh Phúc điện sứ và Tương Châu quan sát sứ.
Vùng đất này vốn do người Khương và người Thổ Phồn chiếm cứ. Đồng Quán tuy là giành được thắng lợi, nhưng từ đó về sau, người Khương và Thổ Phồn liên tục quấy nhiễu, khiến quân Tống phải phòng thủ đến khổ sở.
Ngoài ra, khu vực Hà Hoàng nằm ở phía nam của Tây Hạ, vì vậy tương đương với việc đường biên giới giữa Bắc Tống và Tây Hạ đã được đẩy xa hơn về phía tây. Sái Kinh muốn nhân cơ hội lập công, bèn sai Vương Hậu chiêu dụ người Tây Hạ để quy phục Bắc Tống. Hoàng đế Tây Hạ biết tin thì vô cùng phẫn nộ, lập tức huy động đại quân tấn công Bắc Tống.
Biên cương liên tiếp giao chiến, quân Tống liên tiếp thất bại. Tống Huy Tông lại phái Đồng Quán thống lĩnh đại quân để giao chiến với Tây Hạ.
Đồng Quán khi mới giao chiến với Tây Hạ, nhờ khí thế vừa thắng ở Hà Hoàng, nên đã có những trận thắng và chiếm được ưu thế. Tuy nhiên, Tây Hạ vốn là đối thủ dày dạn kinh nghiệm chiến trận, quen địa hình sa mạc và sơn địa, lại có kỵ binh cơ động rất mạnh, nên khi chiến sự kéo dài, cục diện dần đảo ngược.
Quân Tống gặp khó khăn về hậu cần, địa hình xa lạ, lại thêm người chỉ huy như Đồng Quán thích lập công mà thiếu cẩn trọng, nên dần dần thất thế rồi thua trận. Đồng Quán đã che giấu tin thua trận, mà chỉ báo về triều đình rằng đã đại thắng. Tống Huy Tông cũng không tra xét kỹ, liền thăng chức cho Đồng Quán làm Thái úy, Thái bảo và Thái phó, quyền thế khuynh đảo thiên hạ.
Trên thực tế, việc dùng binh sẽ tiêu tốn chi phí quân sự vô cùng lớn. Tống Huy Tông đã hao tốn rất nhiều tiền của.
Tống Huy Tông là người rất sùng kính Đạo giáo, ông còn tự phong mình làm giáo chủ, xưng là Đạo quân hoàng đế. Nếu học Đạo để có thể thanh tâm quả dục, đạt được cảnh giới vô vi nhi trị của Đạo gia, thì đúng là quá tốt. Nhưng Tống Huy Tông hoàn toàn không làm được, ông chỉ chú tâm vào những việc hữu vi.
Thế là Tống Huy Tông đã tiêu tốn một lượng lớn tài lực để xây dựng Thượng Thanh Bảo Lục cung ngay bên cạnh hoàng cung. Sau đó hoàng đế ra lệnh cho người dân khắp thiên hạ, hễ nơi nào là động thiên phúc địa thì đều phải dựng đạo quán. Triều đình cấp cho đạo sĩ rất nhiều đất, đạo sĩ được cấp bổng lộc, hoàng đế lại còn sủng tín một kẻ giả danh đạo sĩ là Lâm Linh Tố. Đệ tử của Lâm Linh Tố rất đông, họ được triều đình cho ăn ngon mặc đẹp, lên tới hơn 2 vạn người.
Kỳ thực, người tu đạo chân chính vốn cần nơi thanh tịnh để tu hành, tuyệt không thể thu nhận đến 2 vạn đồ đệ, càng không thể bày ra quy mô phô trương như vậy.
Lâm Linh Tố thuở nhỏ là hòa thượng ở chùa, khổ vì bị thầy quở phạt, nên bèn bỏ đi để làm đạo sĩ. Vì vậy, ông ta rất oán hận Phật gia, thậm chí từng tâu xin Tống Huy Tông nên phế bỏ Phật giáo. Về sau, hoàng đế phát hiện pháp thuật của Lâm Linh Tố chẳng hề linh nghiệm, thế là liền đuổi ông ta đi, cũng không hề đàn áp Phật giáo.
Nguyên quốc sách của Bắc Tống là không thể dễ dàng khởi binh, hơn nữa các hoàng đế đều hết sức tiết kiệm, thương dân. Nhưng Tống Huy Tông lại hưởng thụ cuộc sống vô cùng xa xỉ, khiến cho chính sự hỗn loạn.
Trong nước thì bọn gian thần kết bè kết phái, liên tục hà hiếp bách tính, Phương Lạp nổi dậy tạo phản, công phá thành trì, bên ngoài thì chiến sự liên miên. Quốc lực của Bắc Tống vì thế mà hao tổn trầm trọng, cả trong ngoài đều khốn đốn. Ngay vào lúc ấy, ở vùng Đông Bắc, một dân tộc cường đại nhanh chóng quật khởi, chỉ trong 10 năm đã diệt nước Liêu, lại thêm 2 năm nữa thì diệt luôn Bắc Tống. Đó chính là người Nữ Chân.

