Tập 79: Bắc Tống và Liêu đã cùng hưởng thái bình trong suốt 120 năm

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 01/10/2026

Trong những tập trước, chúng tôi lấy Bắc Tống làm mạch chính, kể về các sự kiện từ Khánh Lịch tân chính, Hy Ninh biến pháp cho đến loạn Phương Lạp dưới thời Tống Huy Tông. Trong bài này, chúng tôi sẽ điểm qua những đại sự đã xảy ra từ thời Tống Chân Tông đến thời Tống Huy Tông, có liên quan đến nước Liêu và Tây Hạ.

Nước Liêu ban đầu chỉ là những bộ tộc Khiết Đan, nhưng sau đó họ đã trỗi dậy mạnh mẽ, và hình thành một quốc gia hùng mạnh, đặt quốc hiệu là Liêu. Sau khi nước Liêu ký kết hiệp ước Thiền Uyên chi minh với Bắc Tống, hai nước về cơ bản đã duy trì hòa bình suốt 120 năm. Khi Tống Nhân Tông giao chiến với Tây Hạ, nước Liêu lại thừa cơ uy hiếp, đưa ra yêu sách đòi Bắc Tống phải cắt đất.

Một mặt, Bắc Tống chuẩn bị binh lực để sẵn sàng nghênh chiến, mặt khác phái Phú Bật sang Liêu để tiến hành ngoại giao. Đồng thời, triều đình Bắc Tống lập ra “Bắc Kinh” tại Đại Danh phủ thuộc Hà Bắc.

Bắc Kinh trong thời Tống không phải Bắc Kinh ngày nay. Khi đó, Bắc Tống có bốn đại đô thị quan trọng, đều được gọi là “Kinh”: Khai Phong được gọi là Đông Kinh, Lạc Dương ở phía tây Khai Phong nên được gọi là Tây Kinh, Ứng Thiên phủ được gọi là Nam Kinh, còn Đại Danh phủ ở phía bắc nên được gọi là Bắc Kinh. Đại Danh phủ nằm rất gần biên giới nước Liêu. Bắc Tống lập ra một cứ điểm lớn ngay gần biên giới, thực chất là đã bày ra thế trận quyết tâm bảo vệ lãnh thổ, sẵn sàng cho một trận quyết chiến.

Sau một phen tranh luận kịch liệt, người Liêu nhận thấy rằng nếu khai chiến với Bắc Tống, về chính trị thì không có lý do chính đáng, về quân sự lại không nắm chắc phần thắng, nên cuối cùng họ yêu cầu Bắc Tống tăng thêm 20 vạn ‘tuế tệ’ để kết thúc cuộc khủng hoảng này. Tuế tệ là số lượng tiền mà hằng năm Bắc Tống sẽ phải gửi cho nước Liêu, gọi là cống nạp cũng được, gọi là ban tặng cũng được, nhưng dù sao thì số tiền ấy cũng giúp hai nước tránh khỏi chiến tranh, tránh khỏi cảnh sinh linh đồ thán.

Bắc Tống có 4 kinh thành lớn, nước Liêu thì có đến 5 kinh thành. Ban đầu, người Liêu dựng Thượng Kinh Lâm Hoàng phủ (nay thuộc Tả kỳ Ba Lâm, Nội Mông), sau đó lần lượt xây dựng thêm Đông Kinh Liêu Dương phủ (nay là Liêu Dương, Liêu Ninh), Trung Kinh Đại Định phủ (nay thuộc Ninh Thành, Nội Mông), Nam Kinh Tích Tân phủ (nay là Bắc Kinh, cũng gọi là Yên Kinh) và Tây Kinh Đại Đồng phủ (nay là Đại Đồng, Sơn Tây).

Việc người Liêu thiết lập nhiều kinh đô như vậy cũng cho thấy mức độ Hán hóa đã rất sâu sắc, bởi các dân tộc du mục vốn quen sống trong lều trướng, thường xuyên di chuyển, không cần đến nhiều thành thị cố định. Sau hiệp ước Thiền Uyên chi minh với nhà Tống, tại nước Liêu, Tiêu Thái hậu đã cho mở khoa tiến sĩ, đây là học theo văn hóa Trung Nguyên, dùng khoa cử để tuyển chọn nhân tài.

Quan hệ giữa Tống và Liêu luôn rất thân thiết, trong nhiều năm cùng hưởng thái bình. Sứ thần qua lại giữa hai bên phần nhiều đều là văn nhân học sĩ tài giỏi. Bao Chửng từng đi sứ sang nước Liêu, giữ chức Chính đán sứ, vào dịp Nguyên đán ông được phái sang Liêu để thắt chặt bang giao. Âu Dương Tu cũng từng đi sứ sang nước Liêu, ông được cả triều đình bá quan văn võ tiếp đón rất nồng nhiệt.

Mỗi khi sứ thần đến nơi, hai bên đều tổ chức yến tiệc long trọng, họ bày tiệc rượu, làm thơ vẽ tranh, phô bày lễ nhạc và văn minh. Liêu Hưng Tông và Tống Nhân Tông còn trao đổi chân dung của nhau.

Nếu hoàng đế một nước băng hà thì triều đình đều phải phái sứ giả sang để báo tin cho đối phương. Bên phía nhận tin, hoàng đế có khi sẽ bãi triều để tỏ lòng thương tiếc, đồng thời cấm tấu nhạc và các hoạt động vui chơi ở khu vực biên giới, nhằm biểu thị sự tôn trọng đối với quốc tang của nước kia.

Lần xung đột cuối cùng giữa nước Liêu và Bắc Tống xảy ra vào thời kỳ Vương An Thạch tiến hành biến pháp. Khi ấy, Bắc Tống đã tăng cường xây dựng công sự phòng ngự tại vùng biên giới Tống – Liêu, ở khu vực Hà Đông lộ (nay là Sơn Tây). Bên phía nước Liêu cho rằng việc này là vi phạm Thiền Uyên chi minh, nên đã yêu cầu phân định lại biên giới giữa hai nước.

Sứ giả hai bên qua lại tranh biện nhiều lần nhưng vẫn không thể đi đến kết luận, quan hệ dần trở nên căng thẳng. Tống Thần Tông hỏi Vương An Thạch nên xử trí thế nào. Lúc ấy, Vương An Thạch đang dốc sức vào công cuộc biến pháp, không muốn bị chiến sự phương Bắc quấy nhiễu, nên rốt cuộc đã chấp thuận yêu sách của Liêu quốc, cắt nhượng khoảng 700 dặm đất cho nước Liêu. Từ đó, hai bên lại tiếp tục hòa bình, và duy trì quan hệ ổn định cho đến khi nước Liêu diệt vong.

Vào thời Tống Nhân Tông, nước Liêu và Tây Hạ đã bùng phát chiến tranh. Hoàng đế khai quốc của Tây Hạ là Lý Nguyên Hạo, trước khi xưng đế thì đã từng tiếp nhận sắc phong của nước Liêu, được Liêu Hưng Tông phong làm Hạ quốc vương, đồng thời gả Hưng Bình công chúa cho ông.

Nhưng cuộc hôn nhân này chẳng hề yên ấm, Hưng Bình công chúa đã xảy ra mâu thuẫn với Lý Nguyên Hạo, sau đó công chúa đột ngột qua đời. Liêu Hưng Tông cho rằng Lý Nguyên Hạo có liên quan, nên đã phái người trách tội. Đến năm Khánh Lịch thứ tư (tức năm 1044), Liêu Hưng Tông huy động đại quân tiến đánh Tây Hạ, nhưng kết quả là thất bại. Sau nhiều lần giao chiến, hai bên lúc thắng lúc thua, cuối cùng đều nhận ra là không thể tiêu diệt đối phương, nên đã lại khôi phục quan hệ bang giao như trước.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Lưỡng Tống phồn hoa.

Từ Hiên Viên Hoàng Đế 2 lần đi tìm Quảng Thành Tử cầu Đạo, Khổng Tử hướng đến Lão Tử học Đạo, rồi đến Phật giáo từ Ấn Độ truyền nhập về phương Đông; Nho, Phật, Đạo đã đặt định ra văn hóa trọng Đức hành Thiện, tin vào nhân quả ...

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>