Tập 80: Nước Liêu dần dần suy yếu, tộc Nữ Chân từng bước trỗi dậy

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 01/10/2026

Năm 1031, Liêu Thánh Tông qua đời, thái tử là Gia Luật Tông Chân lên ngôi, sử gọi là Liêu Hưng Tông. Nước Liêu của tộc Khiết Đan từ rất sớm đã hình thành một thế “song trụ”: hoàng tộc có họ là Gia Luật và ngoại thích mang họ Tiêu. Đây gần như trở thành một quy tắc bất thành văn, các hoàng hậu thường xuất thân từ họ Tiêu. Điều này giúp duy trì sự cân bằng quyền lực giữa hai đại tộc, vừa để củng cố hoàng quyền, vừa để tránh nội loạn. 

Hoàng hậu của Liêu Thánh Tông có dung mạo xinh đẹp, đoan trang, lại có nhiều tài nghệ, được tôn xưng là Tề Thiên hoàng hậu. Tề Thiên hoàng hậu không có con, vì vậy Liêu Hưng Tông không phải con ruột của bà, nhưng lại do chính tay bà nuôi dưỡng trưởng thành.

Mẹ ruột của Liêu Hưng Tông là Tiêu Nậu Cân, là người xuất thân thấp kém, vốn chỉ là một cung nữ. Sau khi Liêu Hưng Tông lên ngôi, Tiêu Nậu Cân lấy thân phận sinh mẫu mà tự lập làm hoàng thái hậu, rồi giết chết Tề Thiên hoàng hậu cùng hơn một trăm thủ hạ thân cận của bà, từ đó một tay nắm giữ đại quyền, tác oai tác quái, lại còn phong vương cho người trong nhà mẹ, rồi tự xưng là Pháp Thiên hoàng thái hậu.

Liêu Hưng Tông trong lòng vô cùng bất mãn, bởi vì ông lớn lên bên Tề Thiên hoàng hậu, trái lại đối với mẹ ruột là Tiêu Nậu Cân thì lại không có tình cảm thân thiết. Tiêu Nậu Cân để ý thấy điều này, vì thế bà ta nảy sinh ý định phế bỏ Liêu Hưng Tông, rồi lập đứa con nhỏ là Gia Luật Trọng Nguyên lên làm hoàng đế.

Thế nhưng Gia Luật Trọng Nguyên là người có lương tâm, ông không nỡ làm việc nghịch loạn, nên đã đem âm mưu này báo cho Liêu Hưng Tông. Liêu Hưng Tông vô cùng cảm kích, liền nhanh chóng phát động chính biến rồi trục xuất Pháp Thiên thái hậu Tiêu Nậu Cân. Để báo đáp, Liêu Hưng Tông phong Gia Luật Trọng Nguyên làm Hoàng thái đệ.

Đến khi Liêu Hưng Tông băng hà, Liêu Đạo Tông – Gia Luật Hồng Cơ lên ngôi, ông phong Gia Luật Trọng Nguyên làm Hoàng thái thúc, kiêm chức Thiên hạ binh mã đại nguyên soái. Con của Trọng Nguyên là Gia Luật Niết Lỗ Cổ được phong làm Sở vương, giữ chức Nam viện xu mật sứ.

Từ đó, hai cha con Gia Luật Trọng Nguyên nắm giữ toàn bộ quân chính đại quyền trong triều, rất nhiều đại thần đều tìm đến để nương tựa dưới trướng họ. Bản thân Gia Luật Trọng Nguyên vốn không có dã tâm với ngôi vị, nhưng Gia Luật Niết Lỗ Cổ lại rất khác với cha.

Năm 1063, khi Liêu Đạo Tông đi săn ở sông Loan, Gia Luật Niết Lỗ Cổ đã phát động binh biến. Tuy nhiên, cuộc phản loạn nhanh chóng bị Liêu Đạo Tông đánh tan, Gia Luật Niết Lỗ Cổ bị trúng tên mà chết, còn Gia Luật Trọng Nguyên thì tự sát.

Cuộc phản loạn của Gia Luật Niết Lỗ Cổ là một việc gây chấn động triều đình của Liêu Đạo Tông. Trong việc bình định quân phản loạn, có hai công thần lớn, một là Gia Luật Nhân Tiên, một là Gia Luật Ất Tân. Thế nhưng hai người này lại có tính cách bất hòa: Gia Luật Nhân Tiên trung hậu, còn Gia Luật Ất Tân lại chuyên quyền, rất  thích dùng mưu sâu kế hiểm. Sau đó, Gia Luật Ất Tân đã tìm cách để bài trừ thế lực của Gia Luật Nhân Tiên, cuối cùng độc chiếm đại quyền trong triều. Từ đó, những kẻ muốn thăng quan phát tài đều chạy đến dựa dẫm trước cửa của Gia Luật Ất Tân.

Hoàng hậu của Liêu Đạo Tông là Tiêu Quán Âm, là một tuyệt sắc giai nhân, lại tinh thông thi từ, đánh đàn tỳ bà cũng rất xuất sắc, hoàng hậu sinh ra Thái tử Gia Luật Tuấn. Thế nhưng sau đó, cả Tiêu Quán Âm và Thái tử đều bị Gia Luật Ất Tân dùng mưu hãm hại đến chết. Gia Luật Ất Tân chuyên quyền suốt 15 năm, cuối cùng âm mưu bại lộ, bị Liêu Đạo Tông xử tử.

Liêu Đạo Tông tại vị tổng cộng trong 46 năm, là một trong những vị hoàng đế tại vị lâu nhất của nước Liêu. Thế nhưng về cuối đời, ông lại trọng dụng gian thần Tiêu Phụng Tiên.

Năm 1101, Liêu Đạo Tông băng hà. Bởi vì Thái tử đã bị Gia Luật Ất Tân hại chết từ trước, nên người kế vị là con trai của Thái tử, tên là Gia Luật Diên Hy, sử gọi là Liêu Thiên Tộ đế, đây cũng chính là vị hoàng đế cuối cùng của nước Liêu. Thiên Tộ đế sống cuộc đời hưởng thụ vinh hoa, ông sống hoang dâm, ham mê rượu chè, săn bắn, mà cũng chẳng đoái hoài gì đến chính sự. Lúc này, ở phương đông bắc, tộc Nữ Chân đã trỗi dậy mạnh mẽ, ngày càng lớn mạnh.

Người Nữ Chân có nguồn gốc từ các bộ Mạt Hạt, sinh sống ở vùng Cát Lâm và Hắc Long Giang. Họ vừa sống theo kiểu du mục săn bắn, vừa làm nghề nông, nhưng trình độ văn minh còn rất thấp, chưa có chữ viết, vì thế cũng không có ghi chép lịch sử.

Đến thời nhà Đường, họ được gọi là người Mạt Hạt, gồm có bảy bộ lạc, trong đó Hắc Thủy Mạt Hạt chính là tổ tiên của người Nữ Chân về sau. Ban đầu, người Nữ Chân thần phục nước Bột Hải. Đến khi Bột Hải bị Gia Luật A Bảo Cơ đánh bại, người Nữ Chân chuyển sang thần phục Khiết Đan.

Người Liêu chia Nữ Chân thành hai loại là sinh và thục. Những bộ Nữ Chân ở gần nước Liêu có trình độ văn hóa cao hơn, trực tiếp chịu sự cai trị của người Liêu, gọi là Thục Nữ Chân. Còn những bộ tộc ở xa, văn hóa lạc hậu, thì gọi là Sinh Nữ Chân. 

Sinh Nữ Chân sinh sống ở vùng sông Hỗn Đồng và núi Trường Bạch, trong đó sông Hỗn Đồng chính là sông Tùng Hoa ngày nay. Khu vực này núi rừng dày đặc, khí hậu lạnh giá, thế nhưng lại có nhiều sản vật phong phú như nhân sâm, da chồn, danh mã. Đặc biệt, có hai loại sản vật mà người Liêu vô cùng ưa chuộng, một là Bắc châu, hai là hải đông thanh.

Bắc châu là loại trân châu nước ngọt được sản xuất ở vùng sông Tùng Hoa và sông Mẫu Đơn, đây là trân châu hạt to, sắc vàng nhạt như màu lông ngỗng, tươi sáng tròn đầy, óng ánh rực rỡ. Đó là vật phẩm dùng để tiến cống, vô cùng hiếm quý, giá trị rất cao.

Hải Đông Thanh là một loại chim ưng sinh trưởng ở vùng biển phía đông, loài chim này có lông hơi xanh, tuy thân hình không lớn nhưng bay lượn rất nhanh nhẹn, mạnh mẽ, có thể săn bắt cả thiên nga. Vậy nên đây là loài chim ưng rất khó bắt. Đối với người Khiết Đan ưa thích săn bắn, nếu sở hữu được chim ưng như vậy thì đây chính là biểu tượng của thân phận và địa vị.

Chính vì hai thứ bảo vật này hiếm có khó tìm, nên bọn quan lại ở biên giới nước Liêu thường lấy danh nghĩa tiến cống để ép buộc người Nữ Chân phải giao nộp nhiều hơn, khiến họ khổ không chịu nổi.

Đồng thời, ở vùng biên giới cũng thường xuyên xảy ra xung đột. Những kẻ phản thần của nước Liêu bỏ trốn sang đất Nữ Chân, còn phản thần của Nữ Chân cũng chạy sang nước Liêu. Thế nhưng trong quá trình giao tiếp xử lý, người Nữ Chân luôn là bên chịu thiệt. Vì vậy, người Nữ Chân ngày càng bất mãn đối với nước Liêu.

Năm Thiên Khánh thứ hai ( tức năm 1112), Thiên Tộ đế đến Xuân Châu để câu cá trên sông Hỗn Đồng (thuộc Đại An, tỉnh Cát Lâm ngày nay).

Vào mùa đông tại miền bắc Trung Hoa, các con sông đều đóng băng, lớp băng dày đến mức có thể cho xe tải nặng chạy qua, thậm chí ở vùng cực bắc như sông Hắc Long Giang còn có thể cho xe tăng di chuyển. Mỗi khi xuân đến, băng tan, từng mảng băng lớn trôi dập dềnh hàng nghìn dặm, cuồn cuộn đổ về phía eo biển Thát Đát. Những tảng băng lớn va vào nhau phát ra âm thanh vang dội.

Cá dưới sông đã phải chịu đói trong cả mùa đông, lượng mỡ trong cơ thể hầu như đã tiêu hao hết, tạp chất cũng được thải sạch, nên thịt cá trở nên rắn chắc, không béo không nhão, đặc biệt thơm ngon. Đến nay, người vùng Đông Bắc ở khu vực sông Tùng Hoa, sông Nộn, sông Ô Tô Lý vẫn gọi loại cá này là “khai giang ngư”.

Khi ấy, nước Liêu cũng có phong tục như vậy: sau khi đánh bắt được “khai giang ngư”, thì sẽ mở yến tiệc rồi tế tổ tiên, gọi là “đầu ngư yến”.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Lưỡng Tống phồn hoa.

Có một điều kỳ lạ xảy ra vào ngày 25/04/1999, đến nay vẫn chưa có lời giải đáp. Đó là một tình tiết trong câu chuyện giữa thủ tướng Trung Quốc thời bấy giờ là ông Chu Dung Cơ và 3 học viên Pháp Luân Công đi cùng ông vào bên ...

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>