Tập 95: Hàn Thế Trung chặn đánh quân Kim, người Kim tháo chạy về phương Bắc

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 15/04/2026

Khi quân Kim tiến đánh, Tống Cao Tông khổ sở chạy trốn, còn Kim Ngột Truật thì một mực ráo riết truy kích. Từ tháng 11 năm Kiến Viêm thứ ba, khi Kim quân công phá Giang Ninh, cho đến tháng giêng năm Kiến Viêm thứ tư, đuổi ra tận biển, cuộc truy đuổi này đã kéo dài suốt 3 tháng. Nhưng rốt cuộc Kim Ngột Truật vẫn chỉ là một cánh quân đơn độc thâm nhập, nên cũng chẳng dám lưu lại lâu. Đến tháng 2 năm Kiến Viêm thứ tư (tức năm 1130), hắn buộc phải rút quân quay về Lâm An.

Quân của Kim Ngột Truật trên đường tiến quân thì liên tục phóng hỏa, giết chóc, cướp bóc, thiêu rụi cả Minh Châu (nay là Ninh Ba) và Lâm An (nay là Hàng Châu), khiến mấy chục vạn dân chúng thiệt mạng.

Từ sau loạn Hoàng Sào, vùng Giang Nam hầu như chưa từng hứng chịu chiến sự tàn phá trên quy mô lớn. Kể cả trong thời Ngũ Đại Thập Quốc, khu vực phía nam Trường Giang vẫn có thể tương đối an định, ít khi có đại chiến. Vì thế, dân chúng nơi đây đã quen với cảnh thái bình, gần 200 năm chưa từng chứng kiến cảnh binh đao. Lần này quân Kim quét sạch Giang Nam, phạm vi tàn phá vô cùng rộng lớn, số dân chúng bị giết hại là cực nhiều, có thể nói đây là mức độ tàn phá thảm khốc hiếm thấy trong vòng mấy trăm năm.

Sau khi Kim Ngột Truật rút quân về phía bắc, Tống Cao Tông  mới quay lại Lâm An. Quân Kim vì cướp được quá nhiều vàng bạc châu báu nên không đi đường bộ mà theo đường thủy, men theo tuyến Thường Châu – Trấn Giang – Nam Kinh để có thể rút lui. Vận chuyển châu báu theo đường thủy sẽ dễ dàng hơn nhiều so với đường bộ.

Không ngờ, tại Hoàng Thiên Đãng, nơi giáp giới Nam Kinh và Trấn Giang, quân Kim đã bị Hàn Thế Trung chặn đánh.

Trận đánh tại Hoàng Thiên Đãng đã nổi danh khắp thiên hạ nhờ tiểu thuyết Thuyết Nhạc Toàn Truyện. Trong đó có một tình tiết rằng: phu nhân của Hàn Thế Trung là Lương Hồng Ngọc đã đích thân đánh trống, đốc thúc sĩ khí để đánh giặc Kim. Sự việc này không phải hư cấu, mà trong Tống sử – Hàn Thế Trung truyện cũng có ghi chép rõ ràng.

Trước khi trận chiến này diễn ra, Tống Cao Tông đã triệu Hàn Thế Trung đến. Hàn Thế Trung tâu rõ kế hoạch: đợi khi quân Kim rút về phương bắc thì sẽ chặn đánh ngay trên sông, quyết một trận chiến sinh tử. Lúc ấy Tống Cao Tông đang bị truy đuổi đến mức cùng quẫn, nên cũng đành phải dùng kế sách ấy.

Hàn Thế Trung liền đem quân đóng tại chùa Tiêu Sơn. Ông cùng các tướng bàn bạc, nói rằng: “Địa thế vùng này, hiểm yếu nhất chính là Long Vương miếu trên núi Kim Sơn (phía tây bắc Trấn Giang). Quân Kim ắt sẽ đến đó dò xét”. Vì thế, Hàn Thế Trung sai một viên bộ tướng dẫn theo hai trăm binh sĩ, bí mật mai phục tại Long Vương miếu, chờ thời cơ để xuất kích.

Quả nhiên không ngoài dự liệu của Hàn Thế Trung. Qua một ngày, có 5 viên tướng sĩ quân Kim cưỡi ngựa lên Kim Sơn, đến trước Long Vương miếu để do thám tình hình. Quân Tống âm thầm mai phục trong miếu, đợi đến khi quân Kim tiến lại gần thì bất ngờ nổi trống, ầm ầm xông ra chặn đánh. Năm tên lính người Kim đã trúng mai phục, lập tức quay ngựa bỏ chạy bạt mạng. Quân Tống đuổi theo và bắt được hai tên.

Ba tên còn lại thì cúi rạp trên lưng ngựa, liều mạng tháo chạy. Trong đó có một viên tướng người Kim mặc chiến bào màu đỏ, thắt đai ngọc, trong lúc hoảng loạn đã bị ngã khỏi ngựa, nhưng người này thân thủ nhanh nhẹn, vội vàng nhảy lên ngựa mà chạy tiếp. Quân Tống tra hỏi tù binh thì biết người mặc chiến bào đỏ ấy chính là chủ soái Kim Ngột Truật.

Sau đó, Kim Ngột Truật phái sứ giả đến doanh trại quân Tống để hạ chiến thư, định ngày quyết chiến. Hàn Thế Trung đã nhận lời.

Khi ấy quân Kim có đến 10 vạn binh, còn Hàn Thế Trung chỉ có tổng cộng 8 nghìn, binh lực chênh lệch quá lớn. Hàn Thế Trung hiểu rõ điều này, muốn thắng trận chỉ có thể dựa vào sĩ khí.

Khi giao chiến, phu nhân của ông là Lương Hồng Ngọc cũng mặc chiến giáp, đích thân đánh trống thúc quân. Tiếng trống vang dậy trời, quân Tống bừng bừng khí thế, quân Kim dù cố gắng tiến đánh nhưng cũng chẳng thể phá nổi tuyến phòng ngự trên sông của Hàn Thế Trung.

Kim Ngột Truật lại sai sứ giả đến doanh trại, lần này là xin được nghị hòa, xin đem toàn bộ tài vật cướp được ở Giang Nam hoàn trả, chỉ cầu được cho qua sông, nhưng Hàn Thế Trung kiên quyết không đồng ý. Kim Ngột Truật lại xin dâng một bảo mã để đổi lấy đường thoát, nhưng cũng bị từ chối.

Kim Ngột Truật không sao vượt được sông, đành phải dẫn quân Kim xuống thuyền, lui vào Hoàng Thiên Đãng (nay thuộc vùng đông bắc Nam Kinh, Giang Tô). Nào ngờ Hoàng Thiên Đãng lại là một vùng “tử cảng”, một khi thuyền lọt vào thì chẳng thể tìm được lối ra. Vì thế, hai bên giằng co suốt bốn mươi tám ngày.

Thuyền của Hàn Thế Trung đều là loại hải thuyền lớn, vượt xa thuyền nhỏ của quân Kim. Ông cho chế tạo rất nhiều dây xích sắt, phía trước buộc móc sắt lớn, từ trên thuyền thả xuống, móc lấy thuyền địch. Quân Tống trên thuyền lớn chỉ cần dốc sức kéo mạnh, thì sẽ có thể lật úp thuyền nhỏ của quân Kim.

Quân Kim vốn là người phương bắc, chỉ quen chiến đấu trên lưng ngựa chứ không quen sông nước, lại còn mặc giáp trụ nặng nề, một khi rơi xuống nước thì hầu như đều bị chết đuối.

Kim Ngột Truật vô cùng sốt ruột, nhiều lần xin Hàn Thế Trung ra trận đối thoại, khẩn khoản cầu xin cho quân Kim được qua sông. Hàn Thế Trung đáp: “Các ngươi muốn qua sông? Không khó, chỉ cần trả lại nhị đế, khôi phục lãnh thổ cho ta, thì đôi bên có thể bảo toàn.” Kim Ngột Truật nghe vậy thì cứng họng, đành phải lui về đại doanh.

Vài ngày sau, Kim Ngột Truật lại xin được đối thoại. Lần này Hàn Thế Trung giương cung lắp tiễn, khiến Kim Ngột Truật sợ hãi mà vội vàng rút lui. Khi về doanh trướng, hắn than với các tướng rằng: “người phương nam cưỡi thuyền chẳng khác nào người phương bắc cưỡi ngựa, tới lui nhanh như gió, làm sao mà chống nổi?”

Sau đó, Kim Ngột Truật treo thưởng, tìm kế để phá Hàn Thế Trung. Có một người họ Vương từ Phúc Kiến đến doanh trại, hiến kế rằng: “thuyền lớn của quân Tống phải nhờ gió căng buồm thì mới đi được, chỉ cần chọn ngày không gió mà xuất binh, thì thuyền lớn ắt không thể di chuyển”.

Lại có người dâng kế rằng: “nơi đây vốn có một dòng kênh có thể thông thẳng tới Kiến Khang, chỉ vì lâu ngày bị bồi lấp. Nếu cho binh sĩ đào thông, thì có thể vòng lên thượng lưu, đánh vào phía trên của quân Hàn Thế Trung”.

Kim Ngột Truật bèn cho đào kênh để khai mở thủy đạo, chỉ trong một đêm lặng lẽ mà đào được hơn 30 dặm. Sau đó lại làm theo lời phương sĩ, giết một con bạch mã, moi tim một người phụ nữ, rồi tự rạch trán lấy máu để tế trời, khẩn khoản cầu xin được thoát nạn.

Đến ngày hôm sau, quả nhiên gió lặng sóng yên, thuyền lớn của quân Tống không thể di chuyển. Quân Kim liền dùng thuyền nhỏ để phóng hỏa thiêu đốt thuyền lớn, lại bắn tên dày như mưa, hai bên kịch chiến dữ dội. Cuối cùng, quân Kim phá vòng vây, thoát khỏi Hoàng Thiên Đãng, tháo chạy về phương bắc.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Lưỡng Tống phồn hoa.

Có một điều kỳ lạ xảy ra vào ngày 25/04/1999, đến nay vẫn chưa có lời giải đáp. Đó là một tình tiết trong câu chuyện giữa thủ tướng Trung Quốc thời bấy giờ là ông Chu Dung Cơ và 3 học viên Pháp Luân Công đi cùng ông vào bên ...

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>