Tập 96: Quân Tống và Kim liên tục giao chiến dữ dội tại mặt trận phía Tây

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 16/04/2026

Trong lần xâm lược này, thiết kỵ của người Kim ào ạt nam hạ, tiến thẳng tới miền bắc Giang Tây, phía đông thì càn quét khắp vùng Giang Chiết, cùng Sơn Đông và lưu vực Hoài Hà. Từ đó, Nam Tống mất sạch đất Hoài Bắc, về sau vĩnh viễn không thể khôi phục Trung Nguyên.

Người Kim phong Lưu Dự lên làm hoàng đế, ông là tướng Bắc Tống đã đầu hàng, nguyên là Tri phủ Tế Nam. Lưu Dự lên ngôi, định đô tại Đại Danh phủ, đặt quốc hiệu là Tề. Chính quyền “ngụy Tề” này đã trở thành bù nhìn của người Kim, đồng thời chiếm giữ vừng đất ở giữa Tống và Kim. Còn ở phía tây, người Kim lại nuôi ý đồ muốn từ Thiểm Tây tiến xuống đất Thục, xâm chiếm Tứ Xuyên.

Kim Ngột Truật từ Giang Ninh rút quân trở về phương bắc, chiến sự ở mặt trận phía đông tạm thời khép lại. Tống Cao Tông trở về Việt Châu, ông đổi tên Việt Châu thành Thiệu Hưng phủ. Một năm sau đó (tức năm 1131), hoàng đế đổi niên hiệu thành Thiệu Hưng. Chữ “Thiệu” mang nghĩa là “kế tục”, dường như ngụ ý rằng Tống Cao Tông muốn an cư ở vùng Đông Nam, lấy đó làm căn cơ để tiếp nối phồn hoa của Bắc Tống.

Ngày 14 tháng Giêng năm 1132, Tống Cao Tông từ Việt Châu tiến đến Lâm An. Kể từ đó, Lâm An chính thức trở thành kinh đô của Nam Tống.

Khi chiến sự ở phương Đông tạm dừng, thì chiến sự ở phía Tây lại bắt đầu nổ ra dữ dội. Trước đó, vào tháng 12 năm Kiến Viêm nguyên niên, Kim Thái Tông chia quân làm ba đường, tiến xuống phía nam, trong đó Tây lộ quân do Hoàn Nhan Lâu Thất và Tát Ly Hát chỉ huy, tiến công dữ dội vào Thiểm Tây, và nhanh chóng chiếm cứ vùng phía bắc sông Vị.

Đến tháng 5 năm Kiến Viêm thứ ba (tức năm 1129), Tống Cao Tông phong Trương Tuấn làm Xuyên Thiểm tuyên phủ xứ trí sử, toàn quyền phụ trách việc phòng thủ Tứ Xuyên và Thiểm Tây. Tháng 10 năm 1129, Trương Tuấn đến Hưng Nguyên (nay thuộc Nam Trịnh, Thiểm Tây). Tại đây, ông bắt đầu bố trí quân sự và từng bước phản công quân Kim, mưu đồ thu phục lại vùng đất phía bắc sông Vị.

Trương Tuấn bổ nhiệm một số tướng lĩnh trọng yếu: phong Lưu Tử Vũ làm Tham nghị quân sự, chuyên bàn định kế sách quân cơ; phong Ngô Giới làm Thống chế, chỉ huy cánh quân chủ lực; phong Ngô Lân quản lĩnh thân binh trướng tiền, tức là lực lượng cấm vệ bảo vệ chủ soái. 

Lưu Tử Vũ mang mối thù giết cha với người Kim, ông có ý chí chống giặc vô cùng kiên quyết. Kim Ngột Truật từng sai mười sứ giả đến chiêu hàng, nhưng Lưu Tử Vũ đã chém đầu chín người — có lẽ cố ý để lại một người để quay về báo tin. Còn Ngô Giới và Ngô Lân là hai anh em, họ đều là danh tướng kháng Kim nổi tiếng.

Chiến sự ban đầu tuy có đôi lúc binh bại, nhưng nhìn chung thì đại cục vẫn nghiêng về phía quân Tống. Đến tháng 7 năm Kiến Viêm thứ tư (tức năm 1130), phần lớn vùng Vị Bắc đã được thu phục.

Đúng lúc ấy, Kim Ngột Truật từ Hoàng Thiên Đãng chạy thoát trở về, Hoàn Nhan Lâu Thất và Tát Ly Hát liền phái người đến cầu viện. Kim Ngột Truật đồng ý chi viện, lập tức dẫn đại quân nam hạ. Đến tháng 9 năm 1130, giữa Tống và Kim nổ ra những trận quyết chiến dữ dội tại Phú Bình.

Khi trận quyết chiến nổ ra, bên phía nước Tống có đến 40 vạn quân, 7 vạn chiến mã, thanh thế cực kỳ mạnh mẽ. Nhưng đáng tiếc thay, cánh quân bên phải lại lâm trận bỏ chạy, khiến toàn quân tan vỡ trong chớp mắt, đại thế đang thắng bỗng hóa thành bại.

Trương Tuấn lui quân về Hưng Châu (nay là huyện Lược Dương, Thiểm Tây), sai Ngô Giới trấn giữ Hoà Thượng Nguyên, nằm ở phía đông Đại Tán quan thuộc Phượng Tường. Đây chính là một trong những hiểm địa trọng yếu, nối từ lưu vực sông Vị vượt qua dãy Tần Lĩnh, tiến vào vùng Hán Trung, địa thế hiểm trở vô cùng.

Ngô Giới lệnh cho các tướng bày trận theo địa hình, dựa vào thế núi hiểm yếu mà phỏng thủ, liên tục chống lại các đợt tiến công của quân Kim. Vùng Hoà Thượng Nguyên toàn là sơn cốc, đường đi chật hẹp, quái thạch dựng đứng như vách, khiến kỵ binh người Kim hoàn toàn mất hết uy lực, buộc phải bỏ ngựa mà đánh giáp lá cà. Quân Tống liều chết xung kích, quân Kim không sao tiến lên được.

Thấy vậy, Kim Ngột Truật thân chinh xuất trận, tập hợp hơn 10 quân từ các nơi, dựng cầu phao vượt sông Vị Thủy, từ Bảo Kê lập doanh trại liên hoành, lấy đá đắp lũy làm thành. Quân Kim cùng quân Tống giằng co cách khe núi mà đối trận. Tháng 10 năm 1131, một trận đại chiến bùng nổ.

Ngô Giới đã chuẩn bị cung mạnh nỏ cứng, cho cung thủ liên tục phóng tiễn, tên bay dày đặc tựa như mưa rơi, quân Kim không thể tiến lên được. Ngay lúc đó, kỳ binh quân Tống đánh tập hậu, cắt đứt đường vận lương của địch, khiến quân Kim lâm vào thế khốn cùng. Thấy trận thế bất lợi, Kim Ngột Truật vội vàng tháo chạy, nhưng lại trúng phục binh đã bố trí sẵn của Ngô Giới. Kim Ngột Truật trúng tên bị thương, thất thểu mà bỏ chạy thoát thân. Cuối cùng quân Tống đã dành chiến thắng vang dội tại Hòa Thượng Nguyên.

Kể từ khi quân Kim xâm lược, đây là lần đầu tiên mà Nam Tống giành được một thắng lợi chiến lược mang tính quyết định. Trận Hoàng Thiên Đãng trước đó vẫn chưa thể coi là thắng lợi trọn vẹn, bởi rốt cuộc quân Kim đã đốt thuyền lớn của Tống, phá vòng vây mà thoát.

Sau trận đánh tại Hoà Thượng Nguyên, Tống và Kim lại giao chiến tại Tiên Nhân Quan, ban đầu quân Tống thất bại, nhưng về sau lại chuyển bại thành thắng.

Bấy giờ, Kim Ngột Truật nhận ra rằng việc chính diện công phá tuyến phòng thủ Tần Lĩnh là cực kỳ khó khăn. Vì thế, vào tháng giêng năm Thiệu Hưng thứ ba (tức năm 1133), Kim Ngột Truật phái một cánh quân đi đường vòng để đánh bất ngờ, xuất phát từ Thương Châu (nay thuộc khu vực đông nam Tây An), đánh thẳng vào Kim Châu (nay là An Khang, Thiểm Tây).

Quân Tống liên tiếp thất bại, vừa đánh vừa lui. Quân Kim men theo sông Hán Thủy tiến về phía đông, liên tiếp chiếm được Thạch Tuyền và Dương Châu, rồi tiến quân áp sát Hưng Nguyên (nay là Hán Trung).

Lưu Tử Vũ nhận định rằng Hưng Nguyên khó lòng giữ nổi, bèn bàn bạc với Ngô Giới, cuối cùng quyết định thực hành chiến lược co cụm phòng thủ, tập trung cố thủ các quan ải trong yếu, sử dụng kế “kiên bích thanh dã”, cho quân dân đem hết lương thực vào thành rồi phòng thủ, không cho quân Kim có thể cướp bóc, nhằm làm quân Kim rơi vào cảnh lương thực cạn kiệt mà tự tan.

Khi quân Tống rút về Tiên Nhân Quan (nay thuộc tây nam huyện Phượng, Bảo Kê), họ đã dời sạch lương thảo và gia súc ở vùng Hán Trung, chỉ để lại một dải đất trống. Ngô Giới xét thấy đường vận lương khó khăn, lại e rằng quân Kim sẽ thừa thế tiến sâu vào nội địa, bèn lệnh cho Ngô Lân bỏ Hoà Thượng Nguyên, lui về cố thủ ở Tiên Nhân Quan.

Đến tháng 3 năm Thiệu Hưng thứ tư (tức năm 1134), Kim Ngột Truật thống lĩnh 10 vạn quân, từ Hoà Thượng Nguyên liên tục tiến công, phá núi mở đường, tiến đánh Tiên Nhân Quan. Quân Tống và Kim giao chiến cực kỳ ác liệt. Bởi vì đây là cửa ải cuối cùng từ Thiểm Tây tiến vào Tứ Xuyên, nên quân Tống buộc phải liều chết mà tử thủ.

Tuy rằng quân Tống binh lực ít hơn, nhưng lại dựa vào địa thế hiểm yếu mà phòng thủ, khiến quân Kim không sao có thể đột phá. Đợi đến khi quân Kim mệt mỏi, quân Tống liền dùng kế tập kích doanh trại, lại vòng sang đánh vào hai cánh, hình thành thế bao vây, cuối cùng đã đại phá quân Kim.

Trận chiến dữ dội ở Tiên Nhân Quan đã khiến Kim Ngột Truật hiểu rằng phòng tuyến của Ngô Giới là không thể phá, nên đành phải tạm thời lui binh. Sau đó, tại vùng Phượng Tường, Kim Ngột Truật tiến hành chia đất cho binh sĩ, tổ chức xây dựng các đồn điền để chuẩn bị cho một cục diện chiến tranh lâu dài.

Ngô Giới chỉ huy quân Tống, cùng quân Kim đối chiến suốt gần 10 năm, ông đã dốc cạn tâm lực cả đời, thống lĩnh binh lực kém xa đối phương, thế mà có thể những giữ vững đất Tứ Xuyên, lại còn kiềm chế áp lực của quân Kim đối với vùng Đông Nam. Ngô Giới muốn giảm nhẹ gánh nặng cho dân chúng, nên đã nhiều lần tinh giản quan lại, thắt chặt chi tiêu, cho xây dựng các đồn điền, lại khai thông thủy lợi, phát triển nông nghiệp, nên rất được lòng dân Tứ Xuyên. Đến năm Thiệu Hưng thứ chín (tức năm 1139), Ngô Giới lâm bệnh qua đời.

Người Kim đã nhiều lần tiến quân sâu xuống phía nam, mở ra các cuộc chiến tại Thiểm Tây và Tứ Xuyên. Những chiến sự này đã kéo dài đến tám, chín năm, khiến nước Kim nhận rõ một cục diện rằng: muốn dựa vào vũ lực để tiêu diệt Nam Tống là điều không thể. Phía tây có hiểm địa của núi sông Ba Thục, phía đông lại có Trường Giang ngăn trở, không thể vượt qua dễ dàng. Từ đó, Tống và Kim bước vào thế chiến lược giằng co lâu dài.

Người Kim thấy rằng đã không thể tiêu diệt Nam Tống, thì chi bằng dựng lên một chính quyền bù nhìn. Vì thế, họ đã nâng đỡ triều đình “ngụy Tề” nằm ở khu vực giữa Tống và Kim. Mục tiêu là để giúp người Kim, khi tiến công thì cho Ngụy Tề làm tiên phong, khi phòng thủ thì dùng làm lá chắn.

Nhưng điều Nam Tống phải đối mặt không chỉ là ngoại xâm. Khi ấy, trong nước liên tục nổ ra các cuộc tạo phản, từ khắp Hà Bắc, Hà Nam đến Sơn Đông, Hoài Nam, thậm chí lan xuống Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây, Phúc Châu, cho tới cả vùng Giang – Chiết. Những biến loạn này đã nghiêm trọng phá vỡ trật tự xã hội của Nam Tống, khiến triều đình lâm vào thế “ngoại xâm còn đó mà nội loạn chưa yên”. Một bên phải dốc sức bình định phản loạn trong nước, một bên lại phải gồng mình chống đỡ quân Kim xâm lược, tình thế quả thực là muôn phần gian nan.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Lưỡng Tống phồn hoa.

Có một điều kỳ lạ xảy ra vào ngày 25/04/1999, đến nay vẫn chưa có lời giải đáp. Đó là một tình tiết trong câu chuyện giữa thủ tướng Trung Quốc thời bấy giờ là ông Chu Dung Cơ và 3 học viên Pháp Luân Công đi cùng ông vào bên ...

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>