Tập 39: Liêu Thái Tông dẫn quân nam hạ, đánh bại nước Hậu Tấn

Biên tập: Thiên Phong | Cập nhật: 16/08/2026

Thạch Kính Đường nhận hoàng đế Khiết Đan làm cha, từ đó có được sự trợ giúp của Khiết Đan, rất nhanh sau đó đã có thể đánh bại Hậu Đường, lập nên nước Hậu Tấn. Thạch Kính Đường làm hoàng đế suốt sáu năm, dốc hết sức mình để phụng sự nước Liêu, vậy mà vẫn không ngừng bị Liêu Thái Tông trách cứ, cuối cùng u uất mà chết.

Sau đó, Thạch Trọng Quý được lập làm hoàng đế, hiệu là Hậu Tấn Xuất Đế. Thạch Trọng Quý là cháu gọi Thạch Kính Đường bằng chú, đồng thời cũng là con nuôi của ông. Sau khi lên ngôi, Thạch Trọng Quý đã thay đổi quốc sách nhục nhã khi trước, không thần phục nước Liêu nữa, nhưng không ngờ lại đem đến cho Trung Nguyên một tai họa còn lớn hơn.

Việc Thạch Kính Đường xưng con đối với hoàng đế nước Liêu, vốn đã khiến các vị đại thần trong triều cảm thấy nhục nhã. Đến khi Thạch Trọng Quý lên ngôi, thị vệ đô chỉ huy sứ là Cảnh Diên Quảng liền khuyên ông thay đổi quốc sách.

Thế nhưng Cảnh Diên Quảng không phải là người thực sự có tài, mà chỉ là hạng ngoài mạnh trong yếu: lúc đắc ý thì coi trời bằng vung, hễ gặp chút thất bại liền hoang mang thất thố. Chính những hành vi của Cảnh Diên Quảng về sau đã chôn vùi giang sơn Hậu Tấn.

Khi Thạch Kính Đường qua đời, theo lẽ thường thì Hậu Tấn sẽ phải dâng biểu báo tang với nước Liêu, đồng thời xin Liêu Thái Tông – Gia Luật Đức Quang phê chuẩn việc Thạch Trọng Quý kế vị. Bởi vì tình thế khi ấy, nước Hậu Tấn giống như chư hầu phải thần phục nước Liêu.

Thế nhưng Cảnh Diên Quảng lại đưa ra ba kiến nghị: Thứ nhất, trước đây ta xưng thần với Khiết Đan, nay đã thay vua mới thì không cần xưng thần nữa. Thứ hai, xét về vai vế, Thạch Kính Đường gọi Gia Luật Đức Quang là cha, thì Thạch Trọng Quý chỉ cần xưng là cháu là được. Thứ ba, cũng không cần dâng biểu, đã không còn quan hệ quân thần, chỉ cần viết một bức thư báo tin là đủ.

Thạch Trọng Quý nghe theo lời Cảnh Diên Quảng. Khi bức thư được gửi đến, Gia Luật Đức Quang đọc xong thì nổi giận đùng đùng, chất vấn vì sao Thạch Trọng Quý chưa được nước Liêu phê chuẩn mà đã tự ý đăng cơ. Thế nhưng Thạch Trọng Quý không thèm để ý, ông bắt đầu chuẩn bị cho chiến tranh.

Lúc này, nước Liêu bổ nhiệm một người tên là Kiều Vinh làm “Hồi đồ sứ”, phụ trách việc giao thương giữa nước Liêu và Hậu Tấn, đồng thời đặt cơ quan mậu dịch tại kinh thành Biện Lương. Kiều Vinh vốn là người Trung Nguyên, trước kia khi cha con Triệu Đức Quân đầu hàng Khiết Đan, Kiều Vinh là thuộc hạ của Triệu Diên Thọ, nên cũng theo đó mà quy phục nước Liêu. 

Khi này, Cảnh Diên Quảng cho bắt giữ Kiều Vinh rồi tống giam vào ngục, lại còn bắt hết những người Liêu đến Biện Lương buôn bán, rồi cho giết sạch, tiền bạc thì cướp đoạt, hàng hóa thì tịch thu.

Đây là việc làm hết sức vô lý. Nhiều quan lại cho rằng Hậu Tấn ban đầu là nhờ nước Liêu giúp đỡ mà dựng nên, cũng không nên phụ bạc ân nghĩa ấy, huống chi lại đối xử tàn nhẫn với thương nhân của họ như vậy.

Thế là Cảnh Diên Quảng đã thả Kiều Vinh ra, giả ý an ủi vài lời rồi cho ông trở về nước Liêu. Trước lúc lên đường, Cảnh Diên Quảng hết sức ngạo mạn mà nói: “Về mà nói với chủ nhân của ngươi rằng, tiên đế là do nước Liêu lập, vậy nên mới xưng thần với Liêu. Còn hoàng đế hiện nay là do Trung Quốc tự lập, sở dĩ đối đãi với các ngươi có phần khách khí là vì không quên minh ước giữa tiên đế với các ngươi. Nay chúng ta với các ngươi là láng giềng, tự xưng là cháu đối với hoàng đế các ngươi, như vậy đã là quá đủ, đâu có lý gì phải xưng thần. Bảo với hoàng đế các ngươi là chớ nghe lời dụ dỗ của Triệu Diên Thọ mà khinh miệt, nhục mạ Trung Nguyên. Quân đội Trung Quốc ra sao, ngươi cũng đã tận mắt thấy rồi. Nếu lão đầu nhà các ngươi nổi giận, muốn kéo quân sang đánh, thì ở đây chúng ta có mười vạn ‘hoành ma kiếm’, đủ sức đối phó với các ngươi. Nếu sau này lão đầu nhà các ngươi bị ‘đứa cháu’ này đánh bại, bị thiên hạ chê cười thì chớ có hối hận!”

Kiều Vinh nghĩ rằng mình đã làm mất hàng hóa và tiền bạc, nếu trở về thì ắt sẽ bị Liêu Thái Tông – Gia Luật Đức Quang trách tội, vậy nên ông ta muốn có chứng cứ trong tay để có thể thoát tội. Kiều Vinh bèn nói: “Ngài nói nhiều lời như vậy, e rằng ta về sẽ không thể thuật lại đầy đủ, vậy xin ngài hãy viết ra giấy”.

Cảnh Diên Quảng liền cho bọn thư lại chép toàn bộ lời nói ấy, đóng đại ấn rồi giao cho Kiều Vinh. Kiều Vinh trở về, đem mọi việc tâu lại tường tận với Liêu Thái Tông. Gia Luật Đức Quang nghe xong thì nổi giận lôi đình, từ đó quyết ý dẫn quân nam hạ, xâm lược Hậu Tấn.

Ban đầu, cuộc chiến giữa Liêu Thái Tông – Gia Luật Đức Quang và Hậu Tấn là rất thuận lợi. Năm 944, lần đầu nước Liêu dẫn quân nam hạ thì đã bị quân Hậu Tấn đánh lui, năm sau lại tiến quân lần nữa, vẫn đại bại mà rút về.

Sau hai trận đại thắng, Thạch Trọng Quý liền sinh lòng tự phụ, cho rằng mình đã là thiên hạ vô địch, bèn chuẩn bị xuất binh để đánh chiếm U Châu, đây là khu vực đã từng cắt nhượng cho nước Liêu.

Tháng 10 năm 946, Thạch Trọng Quý bổ nhiệm Đỗ Trọng Uy làm Bắc diện hành doanh đô chiêu thảo sứ, tức là tổng chỉ huy đại quân Bắc phạt, rồi cho bố cáo thiên hạ, chính thức khởi binh. Đỗ Trọng Uy là em rể của Thạch Kính Đường, tức là cũng thuộc hàng hoàng thân quốc thích. Nhưng tài dụng binh của ông ta thì lại kém cỏi, đã nhiều lần bỏ lỡ thời cơ.

Trong khi đó, Liêu Thái Tông lại dẫn quân nam hạ, vòng ra phía sau quân Tấn rồi cắt đứt đường tiếp tế và chặn đường rút lui. Đỗ Trọng Uy cùng quân sĩ dốc sức phá vây nhưng không thành. Lúc này, Gia Luật Đức Quang bèn hứa rằng: chỉ cần Đỗ Trọng Uy đầu hàng thì sẽ phong cho ông ta làm hoàng đế Trung Quốc. Đỗ Trọng Uy vì thế mà đã đầu hàng. Khi ấy là ngày 10 tháng 12 năm 946.

Đạo quân này vốn là chủ lực của nước Hậu Tấn, một khi đã tan rã thì kinh thành Biện Lương sẽ không thể chống cự. Lúc này thì ngay cả việc tuyển mộ 500 quân tiếp viện cũng là khó khăn, cả đô thành đã biến thành một tòa thành không còn sức phòng thủ.

Bạn đang xem bài viết thuộc chuyên mục: Lưỡng Tống phồn hoa

Bài viết liên quan:

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}
>