Năm Thiệu Hưng thứ 11, tức năm 1141, Nhạc Phi bị Tần Cối và Tống Cao Tông hãm hại, chết oan tại Phong Ba Đình. Tháng 4 năm sau, nước Kim quốc sắc phong Cao Tông làm Hoàng đế. Đến tháng 7, họ trao trả di cốt của Tống Huy Tông, đồng thời đưa sinh mẫu của Tống Cao Tông là Vi Thái hậu trở về Nam Tống. Nhưng nền hòa bình giữa Tống và Kim, được dựng lên trên máu của trung thần và nỗi nhục quốc gia, rốt cuộc có thể duy trì được bao lâu!?
Nếu đem hiệp ước “Thiệu Hưng hòa nghị” giữa Tống và Kim để so sánh với “Thiền Uyên chi minh” giữa Tống là Liêu, chúng ta có thể thấy một sự khác biệt rất lớn. Trong “Thiền Uyên chi minh”, hai nước Tống — Liêu được ước định là hai quốc gia huynh đệ, địa vị ngang hàng. Còn trong “Thiệu Hưng hòa nghị”, Nam Tống bị đặt vào thân phận phiên thuộc của nước Kim.
Tuy rằng nước Kim đã trả lại cho Nam Tống một phần đất đai ở phía nam sông Hoài, nhưng các vùng Hà Nam, Hà Bắc, Sơn Tây, Sơn Đông, miền bắc Thiểm Tây cùng nhiều vùng đất rộng lớn khác đều đã mất sạch. Đây vốn dĩ phải là nỗi quốc nhục nặng nề đối với Nam Tống. Huống chi mối nhục Tĩnh Khang vẫn chưa thể rửa, cơ nghiệp tổ tông vẫn còn chia cắt, xương máu trung thần vẫn chưa nguôi lạnh. Thế nhưng Tống Cao Tông lại một mực tô son trát phấn cho cảnh thái bình giả tạo, lại còn gia phong cho tên gian thần bán nước Tần Cối làm Thái sư, Ngụy quốc công.
Có câu: “Nhà nghèo mới thấy con hiếu thảo, nước loạn mới thấy bậc trung lương”. Từ nỗi nhục Tĩnh Khang cho đến “Thiệu Hưng hòa nghị”, chúng ta đã chứng kiến biết bao vị tướng yêu nước, biết bao anh hùng đứng lên giữa cơn quốc nạn: Lý Cương, Tông Trạch, Nhạc Phi, Hàn Thế Trung, Ngô Giới, Ngô Lân, Trương Tuấn, Lưu Kỳ, cùng nhiều người khác. Bên cạnh họ còn có những bộ tướng anh dũng như Nhạc Vân, Ngưu Cao, Dương Tái Hưng… Cái chết oan khuất của Nhạc Phi đã khiến những tướng lĩnh ấy vô cùng đau lòng và lạnh buốt tâm can.
Khi ấy, các tướng lĩnh yêu nước lần lượt bị gạt ra ngoài, sống cảnh nhàn tản không còn được trọng dụng. Chẳng hạn như Hàn Thế Trung, ông vốn không tán thành hòa nghị. Lại thêm cái chết oan khuất của Nhạc Phi, khiến Hàn Thế Trung càng thêm nguội lạnh, ông đã dứt khoát từ quan, không còn tham dự triều chính nữa.
Tháng 10 năm 1142, Tống Cao Tông ban cho Hàn Thế Trung một chức vị hữu danh vô thực, tấn phong ông làm Phúc quốc công, đồng thời vẫn giữ danh hiệu Tiết độ sứ. Từ đó về sau, Hàn Thế Trung đóng cửa không tiếp khách, tuyệt nhiên không còn bàn đến việc binh đao. Ông thường cưỡi lừa, mang theo rượu, dẫn theo một hai tiểu đồng, thong dong dạo chơi khắp vùng Tây Hồ, lấy đó làm vui. Những tướng tá, thuộc hạ cũ ngày thường cũng rất hiếm khi được gặp mặt ông.
Hàn Thế Trung là người trung trực. Khi sắp qua đời, ông dặn người nhà rằng: “Tên ta là Thế Trung. Theo lễ xưa, con cháu phải kiêng húy tên cha mẹ. Nhưng các con không cần phải kiêng chữ ‘Trung’. Nếu ngay cả chữ ‘trung’ cũng không nhắc đến nữa thì chẳng khác nào đã quên mất đạo trung nghĩa”.
Hàn Thế Trung lại nói với các bộ tướng đến thăm bệnh rằng: “Ta vốn chỉ là một kẻ áo vải, trải qua trăm trận nơi sa trường, cuối cùng được đứng vào hàng vương công. Nay có thể chết yên ổn trên giường bệnh, đối với một võ tướng từng vào sinh ra tử như ta, đã là điều may mắn lắm rồi, chẳng có gì đáng phải bi thương”.
Tuy ngoài mặt Hàn Thế Trung dường như không hỏi đến chính sự, nhưng trong lòng ông, đối với Tần Cối thì vẫn vô cùng bất mãn.
Khi Tần Cối hãm hại Nhạc Phi, người trong triều không ai dám đến phủ Tần Cối để chất vấn. Chỉ có Hàn Thế Trung dám đi. Ông nói một câu rằng: “Ba chữ ‘mạc tu hữu’ làm sao có thể khiến thiên hạ tâm phục!?” Ý là: chỉ dựa vào một tội danh mơ hồ như vậy thì làm sao có thể kết tội một vị trung thần như Nhạc Phi!?
Khi Hàn Thế Trung và Tần Cối cùng làm quan trong triều, sử sách chép rằng Hàn Thế Trung “ngoài một cái chắp tay thi lễ ra, chưa từng nói chuyện với Tần Cối dù chỉ một lời”. Nghĩa là chỉ miễn cưỡng chắp tay theo lễ, chứ không thèm nói chuyện với Tần Cối.
Hàn Thế Trung nhiều lần công khai phản đối hòa nghị, vì thế càng khiến Tần Cối tức giận. Có người khuyên ông nên dừng, đừng tiếp tục đối đầu với Tần Cối nữa. Nhưng Hàn Thế Trung nói: “Nay nếu vì sợ tai họa mà hùa theo hắn, cùng hắn đồng lưu hợp ô, thì ngày sau khi nhắm mắt xuôi tay, ta làm sao có thể tránh khỏi gậy sắt của Thái Tổ ở dưới suối vàng?”
Hàn Thế Trung đối với tiền tài, danh lợi đều xem rất nhẹ. Mỗi lần nhận được Hoàng đế ban thưởng, ông đều đem chia cho các bộ tướng dưới quyền. Ông cũng từng mua ruộng đất. Theo quy định đương thời, với địa vị cao quý như Hàn Thế Trung, ruộng đất của bậc đại quan có thể được miễn thuế. Thế nhưng ông vẫn làm giống như những hộ dân bình thường có tên trong sổ hộ tịch, ông vẫn nộp đầy đủ thuế và lương thực cho quốc gia, không hề ỷ thế mà chiếm chút lợi riêng.
Đôi tay của Hàn Thế Trung cũng vô cùng khéo léo, ông từng thiết kế nhiều loại binh khí mới, và những thứ ấy đã phát huy tác dụng rất lớn trong cuộc chiến kháng Kim. Ngay cả phương pháp huấn luyện kỵ binh cưỡi ngựa vượt qua khe núi cũng là do Hàn Thế Trung sáng tạo ra.
Hàn Thế Trung từng trúng tên độc trên chiến trường. Mũi tên ấy cắm sâu vào tận xương, vậy mà ông vẫn chịu đau, nạo xương trị độc, giống như Quan Vân Trường năm xưa cạo xương chữa thương. Về sau, mười ngón tay của ông chỉ còn lại bốn ngón. Khắp thân thể đều là vết chém, vết tên, những vết sẹo chằng chịt như từng nét khắc của sa trường. Bởi vậy, Hàn Thế Trung quả là một tướng lĩnh vô cùng dũng mãnh: cả đời tung hoành trong khói lửa, lấy thân mình gánh chịu phong ba, lấy trung nghĩa làm cốt khí.
Những năm cuối đời, Hàn Thế Trung chỉ giữ một chức quan nhàn tản. Ông sống bình dị, gần gũi với mọi người, chẳng khác nào một người chưa từng làm quan trong triều. Hàn Thế Trung yêu thích tư tưởng Phật gia và Đạo gia, ông nghiên cứu đạo lý của Thích — Lão, rồi tự đặt hiệu cho mình là Thanh Lương cư sĩ.
Địa vị của Hàn Thế Trung rất cao, công lao lại rất lớn, cho nên ngay cả Tần Cối cũng không thể làm gì được ông. Còn những bậc sĩ phu dám nói lời ngay thẳng khác thì lần lượt bị Tần Cối bài xích, chèn ép, thậm chí là bị hãm hại đến chết.
Khi ấy, có người viết lên tường Thái học một câu rằng: “Phù Sai, ngươi đã quên Việt Vương từng giết cha ngươi rồi sao?” Đây chính là câu mà Ngô vương Phù Sai đã dùng để tự răn đe bản thân mình không được quên mối thù, và sau này ông đã đánh bại Việt vương Câu Tiễn, báo thù cho cha.
Thế nhưng lời này khi được viết vào thời Nam Tống thì chẳng khác nào đang mắng chửi Tống Cao Tông rằng đã quên mối nhục khi trước. Tần Cối biết được việc này, liền nhanh chóng tìm ra người viết câu ấy rồi lưu đày đến Quảng Đông.
Đến năm Thiệu Hưng thứ 20, tức năm 1150, có một quân sĩ thuộc Điện tiền ty tên là Thi Toàn đã giấu dao sắc trong người, định mưu sát Tần Cối nhưng không thành. Tần Cối bắt Thi Toàn giam vào ngục của Đại Lý Tự, rồi đích thân thẩm vấn, để tìm ra động cơ hành thích và kẻ nào đứng sau sai khiến.
Thi Toàn khẳng khái đáp rằng: “Người trong thiên hạ đều muốn giết người Kim để báo thù, chỉ có mình ngươi là không chịu. Vì vậy ta muốn giết ngươi!” Tần Cối ra lệnh xử Thi Toàn bằng cực hình lăng trì, khiến một nghĩa sĩ ôm chí trung nghĩa phải chết thảm dưới tay gian thần.
Tần Cối giáng chức vị Tể tướng thuộc phái chủ chiến là Triệu Đỉnh, đày ông đến Triều Châu, tức là vùng Triều Dương, Quảng Đông. Trương Tuấn cũng bị giáng chức đến Liên Châu, nay thuộc thành phố Thanh Viễn, Quảng Đông. Khi ấy, để tránh tai họa, Triệu Đỉnh suốt 5 năm liền đóng cửa không tiếp khách, tuyệt không bàn đến thế sự. Có người hỏi ý kiến, ông cũng chỉ nói rằng bản thân mình làm chưa tốt, không dám hé lộ nửa lời.
Triệu Đỉnh sai người nhắn lại với con trai là Triệu Phần rằng: “Tần Cối nhất định muốn giết ta. Nếu ta chết, các con có lẽ còn được yên. Nếu không, thì e rằng cả nhà chúng ta đều khó giữ nổi.” Thế rồi ông tuyệt thực mà chết. Khi ấy là năm Thiệu Hưng thứ 17, tức năm 1147.
Nhưng dù Triệu Đỉnh đã chết, Tần Cối vẫn không buông tha cho ông. Lại còn có Hồ Thuyên, người từng mắng Tần Cối, văn chương chính khí truyền khắp thiên hạ. Tần Cối khi ấy muốn dựng lên một đại án, vu oan con trai Triệu Đỉnh là Triệu Phần và cả Hồ Thuyên, cùng 53 người khác vào vòng liên lụy. May thay, âm mưu của Tần Cối còn chưa kịp phát động thì hắn đã lâm bệnh mà chết. Khi ấy là năm Thiệu Hưng thứ 25.
Sau hòa ước Thiệu Hưng, Nam Tống dần chìm vào cảnh văn thần an nhàn, võ tướng ham vui; từ trên xuống dưới, người ta gần như đã quên sạch mối quốc hận gia thù.
Đương thời có một bài từ nổi tiếng theo điệu “Phong nhập tùng”, vẽ nên một bức tranh Tây Hồ giữa tiết xuân: gió xuân mười dặm, hương sắc ngập trời, phồn hoa diễm lệ, người người say đắm trong cuộc vui. Thái học sinh Du Quốc Bảo sau một cơn say đã viết bài từ ấy rồi đề lên tấm bình phong trong một tửu quán bên Tây Hồ, viết rằng:
“Cả mùa xuân tiêu tiền mua hoa,
Ngày ngày mê say trong men rượu.
Ngựa ngọc đã quen đường Tây Hồ,
Kiêu hãnh hí vang qua lầu rượu.
Trong hương hồng hạnh vang tiếng trống,
Dưới bóng dương xanh có bóng người
Đong đưa chậm rãi trên xích đu.”
Đến phần sau, bài từ lại viết rằng:
“Gió ấm thổi mười dặm, trời xuân đầy mỹ nhân,
Hoa cài mái tóc mây nghiêng lệch.
Thuyền chở cả mùa xuân lạc bước,
Tình nồng còn vương vấn, gửi trên khói Tây Hồ.
Ngày mai cùng men say còn sót,
Đến tìm trâm rơi trên lối cũ”.
Qua bài từ này, chúng ta thấy quả là một bức tranh đẹp biết bao: có hồng hạnh, có liễu xanh, có tiếng cười của mỹ nhân trên xích đu. Bên bờ Tây Hồ, người đi chơi đông nườm nượp, đông đến mức những món trâm hoa trên mái tóc thiếu nữ cũng bị rơi. Ý xuân như chất đầy trong những chiếc thuyền vẽ, lênh đênh giữa mặt hồ. Khi rượu tỉnh rồi mà lòng còn lưu luyến, vậy thì ngày mai lại đến nữa.
Đọc bài từ ấy, người ta chỉ thấy một cảnh tượng phú quý, nhàn nhã, phong quang mềm mại, diễm lệ vô cùng. Nhưng chính trong thứ ôn nhu phú quý ấy, chí khí của con người cũng bị mài mòn đến cạn kiệt.
Về sau, Tống Cao Tông đọc được bài từ này, ông còn sửa lại một câu. Ông cho rằng câu “ngày mai lại chỉnh đốn rượu tàn” nghe quá nhỏ nhen, thiếu phong vị, bèn đổi thành “ngày mai lại đến cùng men say còn sót,”. Hán việt là: Minh nhật trùng phù tàn túy. Chỉ một chi tiết ấy cũng đủ thấy tâm thái tô son trát phấn cho cảnh thái bình giả tạo này đã lan từ Hoàng đế cho đến bậc thứ dân. Nhìn vào có thể thấy, vận mệnh nhà Tống đang từng bước suy tàn.

