Xuân thu Chiến quốc (41) Truyền kỳ Ngô Khởi, tài dùng binh sánh ngang Tôn Vũ

Tác giả: Thiên Phong | Cập nhật: 08/05/2024
Danh mục: Huyền Sử

Ngụy Văn hầu bổ nhiệm Nhạc Dương đánh chiếm Trung Sơn ở phía bắc nước Triệu, phái Tây Môn Báo cai trị Nghiệp thành phía nam nước Triệu. Lúc này, Ngụy Văn hầu lại hướng mắt về nước Tần ở phía tây. Ngụy quốc nằm ở bờ đông của Hoàng Hà, tiếp giáp với nước Tần là một khu đất gọi là Tây Hà. 

Năm 419 TCN, Ngụy Văn hầu cho quân vượt Hoàng Hà đi về phía tây, sau đó đắp thành ở Thiểu Lương, tạo nên một cứ điểm quân sự để tấn công nước Tần. Quân Tần chống cự nhưng không thắng được quân Ngụy. Để chuẩn bị cho việc công hạ nước Tần, Ngụy Văn hầu cần một vị tướng bách chiến bách thắng, ông lại hỏi Địch Hoàng, rằng ai là người có thể đảm nhận vị trí đó.

Lần này Địch Hoàng tiến cử Ngô Khởi. Ngô Khởi là một vị tướng rất nổi tiếng. Trong “Sử ký”, Tư Mã Thiên xem Ngô Khởi với Tôn Vũ là “kẻ tám lạng, người nửa cân”, bởi vì ông cho rằng Ngô Khởi dùng binh cũng sánh ngang Tôn Vũ. Nhưng đạo đức phẩm hạnh của Ngô Khởi có vấn đề. Lý Khôi nói: “Con người Ngô Khởi này rất tham lam và háo sắc, nhưng dùng binh đánh trận thì cho dù là Tư Mã Nhương Thư của nước Tề năm đó cũng không sánh bằng”.

Ngô Khởi có một câu chuyện rất nổi tiếng là “sát thê cầu tướng”, tức là “giết vợ để được làm tướng”. Ngô Khởi vốn là người nước Vệ, nước Vệ là một quốc gia rất nhỏ. Ngô Khởi lúc nhỏ gia đình có nhiều tiền, sau khi lớn, anh ta dùng tiền để mua quan chức nhưng không thành. Người trong làng thấy vậy đều chê cười anh ta. Điều đó khiến Ngô Khởi nổi con thịnh nộ, nên đã sát hại hơn 30 mạng người.

Sau khi cơn giận qua đi, ông biết mình đã phạm tội lớn. Nếu cứ ở lại thì kiểu gì cũng bị quan phủ bắt được. Bởi vì thời xưa là giết người phải đền mạng, Ngô Khởi biết nếu ở lại thì kiểu gì cũng bị chém, nên ông đã lên đường bỏ trốn.

Ngô Khởi cáo biệt mẫu thân. Cách ông từ giã mẫu thân cũng rất đặc biệt, ông dùng răng cắn cho cánh tay chảy máu, rồi nói với mẹ rằng: “Nếu con không thể làm đến bậc khanh tướng, không làm được tước vị cao, con sẽ không về gặp mẹ”. Sau đó Ngô Khởi rời nước Vệ.

Ngô Khởi đến nước Lỗ, học Nho giáo với một nhà Nho uyên bác bấy giờ là Tăng Sâm. Tăng Sâm là học trò của Khổng Tử. Ngô Khởi rất hiếu học, Tăng Sâm rất yêu thích người học trò này. 

Nhưng sau này Tăng Sâm phát hiện Ngô Khởi đã ba năm không về nhà, nên thấy lạ, mới hỏi Ngô Khởi rằng: “Mẫu thân của con chắc nhớ con lắm, tại sao không về thăm bà ấy?”.

Ngô Khởi đáp: “Lúc con rời xa mẫu thân đã phát thệ, nếu không làm đến bậc khanh tướng, con quyết không về”. 

Tăng Sâm giật mình, ông rất ghét câu nói này, ông nói: “Một người sao có thể phát lời thề độc đến như vậy với mẹ mình cơ chứ”

Từ đó trở đi, Tăng Sâm dần xa lánh Ngô Khởi. Không lâu sau đó có tin mẹ Ngô Khởi qua đời. Khi ấy, Ngô Khởi ngửa mặt lên trời gào khóc thảm thiết, nhưng sau đó ông ngay lập tức lau khô nước mắt, rồi lại tiếp tục học tập như cũ, xem như chưa có chuyện gì xảy ra.

Chúng ta biết rằng, Nho gia rất coi trọng đạo hiếu. Tăng Sâm nói: “Hiếu là gốc rễ con người, cây không có gốc rễ thì sẽ gãy đổ, nếu một người không có gốc rễ thì chết không thanh thản, cho nên ta không có người học trò như Ngô Khởi. Ngô Khởi đã học ta nhiều năm như vậy, ngay cả đạo hiếu cơ bản cũng không làm được. Dạy tiếp thì có tác dụng gì”. Từ đó, Tăng Sâm không gặp Ngô Khởi nữa.

Ngô Khởi thấy học Nho giáo không có tiền đồ, thế là ông chuyển sang học binh pháp. Ngô Khởi có tài ăn nói, khi đàm luận với người khác thì thao thao bất tuyệt. Khi ấy, có một Đại phu nước Tề là Điền Cư, đã đến nước Lỗ, trùng hợp gặp mặt Ngô Khởi. Ông đã đàm luận với Ngô Khởi rất lâu, phát hiện Ngô Khởi là người siêng năng, hiếu học, nói năng trôi chảy, cảm thấy đây là người rất có thực tài. Thế là Điền Cư gả con gái cho Ngô Khởi. Sau này, cùng với sự tiến cử của quan Tướng quốc nước Lỗ là Công Nghi Hưu, Ngô Khởi đã làm Đại phu ở nước Lỗ.

Khi nước Tề tiến đánh nước Lỗ, quân vương nước Lỗ muốn chọn một vị tướng có thể lãnh binh. Tề là nước rất lớn, còn Lỗ chỉ là nước nhỏ, nên ông khá lo lắng. Có người tiến cử Ngô Khởi, nhưng quốc vương còn nghi ngại. Khi biết chuyện, Ngô Khởi bèn tự mình đến gặp quân vương rồi hỏi: “Vì sao ngài không giao binh quyền cho thần?”

Quân chủ nước Lỗ đáp rằng: “Ta có một nghi ngại, vì vợ ngươi là người nước Tề… Khi ngươi đánh trận làm sao có thể không quan tâm đến cảm giác của vợ khi thấy mẫu quốc bị chồng dẫn binh sang đánh?”

Ngô Khởi mới nói: “Đó là e ngại của ngài, tôi có thể ‘trừ’ đi mối e ngại đó”.

Thế là Ngô Khởi về nhà hỏi vợ rằng: “Vì công danh của chồng, nàng có thể làm một ‘cống hiến’ được không?”

Vợ Ngô Khởi không biết câu nói ấy có ý nghĩa gì, đang lúc trơ mắt không biết trả lời ra sao, thì Ngô Khởi rút kiếm chém xuống. Ngô Khởi nhẫn tâm giết vợ, rồi đem thủ cấp đến diện kiến quân vương nước Lỗ.

Người vợ này có thể chính là con gái của Điền Cư, là đại phu nước Tề. Năm xưa Điền Cư thấy Ngô Khởi có tài nên đã gả con gái mình cho anh ta. Đây có thể là quyết định sai lầm nhất của cuộc đời ông.

Sau khi đem thủ cấp của vợ đến gặp vua nước Lỗ, Ngô Khởi nói: “Ngài nghi ngại vì tôi có vợ là người nước Tề, nên có thể không thể hết lòng vì nước Lỗ, hiện tại tôi đã trừ bỏ mối e ngại của ngài rồi”.

Khi đó quốc vương nước Lỗ cảm thấy thương xót người vợ xấu số của Ngô Khởi, đồng thời cảm thấy Ngô Khởi là người rất tàn độc và nhẫn tâm. Nhưng vua nước Lỗ thấy Ngô Khởi thật sự có tài, hiện tại không có đại tướng nào có thể thay thế Ngô Khởi được. Thế là vua nước Lỗ bèn giao binh quyền cho Ngô Khởi. 

Ngô Khởi nắm đại binh trong tay, ông luyện binh rất giỏi, chỉ đánh một trận với nước Tề mà đã giành thắng lợi. Sau khi về nước Lỗ, quân vương nước Lỗ vẫn rất lo ngại Ngô Khởi. Ngô Khởi nhạy bén đoán biết được tình hình, nên đã rời nước Lỗ.

Vào thời đó, Ngụy Văn Hầu nổi tiếng là bậc quân chủ hiền minh, Ngô Khởi đã đến nước Ngụy. Do được sự tiến cử của Lý Khôi, Ngụy Văn hầu bèn trọng dụng ông, phong cho làm tướng. Ngô Khởi được lệnh cầm quân đi đánh nước Tần, chiếm được năm thành.

Câu chuyện Ngô Khởi giết vợ để được làm tướng, đã được ghi lại trong “Sử ký” như sau: “Ngô Khởi học Tăng Tử, phụng sự quốc vương nước Lỗ. Nước Tề đánh nước Lỗ, vua nước Lỗ muốn Ngô Khởi làm tướng, nhưng Ngô Khởi từng lấy con gái nước Tề làm vợ, dẫn đến việc vua nước Lỗ hoài nghi. Ngô Khởi muốn công danh, vì thế giết vợ, để minh chứng mình không có quan hệ gì với nước Tề nữa. Vua nước Lỗ cho Ngô Khởi làm tướng, đại phá được quân Tề”. “Sử ký” nói về động cơ giết vợ của Ngô Khởi là vì “muốn công danh”.

Ngô Khởi đối xử với vợ rất tàn nhẫn nhưng ông lại đối xử rất tốt với thủ hạ. Ông đối đãi tốt với binh sĩ không phải là thực lòng mong muốn tốt cho họ, mà là để có thể khiến binh sĩ hy sinh vì ông. Cho nên khi Ngô Khởi đi đánh trận, ông luôn mặc y phục rách rưới, ăn loại cơm dành cho binh sĩ cấp thấp nhất. Ông cũng không ngồi xe, binh sĩ cấp thấp nhất phải đi chân trần, vác lương thực và hành quân, ông cũng làm giống như những binh sĩ đó, cũng đi chân trần, vác lương thực hành quân.

Một lần nọ, có một binh sĩ bị bệnh ngoài da, Ngô Khởi tự mình dùng miệng hút mủ trên da của người lính đó ra ngoài. Chuyện này đến tai của mẫu thân người lính, người mẹ khi đó đã khóc. Nhưng đây không phải là tiếng khóc cảm động, mà là tiếng khóc của… sự sợ hãi. Người mẹ này nói: “Năm đó Ngô Khởi cũng tự mình hút mủ cho cha của nó, nên khi chiến đấu, ông ấy không màng an nguy, cuối cùng chết nơi sa trường. Hiện tại con trai tôi cũng được Ngô Khởi hút mủ, tôi không biết rằng con trai mình có chết ở nơi nào đó không…”.

Ngô Khởi công hạ được Tây Hà cho Ngụy Văn hầu, đối với nước Tần mà nói là một thất bại rất lớn. Ngô Khởi chỉ huy quân Ngụy vượt sông, đánh phá cứ điểm quân sự của nước Tần ở địa khu Tây Hà, quân Ngụy lại chiếm thêm Lâm Tấn, Vương Thành, Nguyên Lý, Lạc Âm, Hợp Dương, Âm Tấn. Quân Ngụy không chỉ chiếm được Tây Hà, mà còn chiếm được Thiểm Tây, khống chế đường giao thông hoàng kim giữa phía tây và Trung Nguyên.

Vùng đất Tây Hà là giao giới của ba con sông Hoàng Hà, Vị Hà và Lạc thủy, là một nơi rất màu mỡ. Hoàng Hà vốn là nơi hiểm yếu để phòng ngự, Tây Hà lại bị chiếm, hơn nữa con đường giao thông hoàng kim từ phía tây sang Trung Nguyên lại bị nước Ngụy chiếm, những điều ở trên khiến nước Tần ngày càng suy yếu.

Năm 396 TCN, Ngụy Văn hầu mất, thế tử Kích lên thay, tức là Ngụy Vũ Hầu. Có một lần Ngụy Vũ Hầu thả thuyền xuôi dòng Tây Hà, ở giữa dòng, quay lại nhìn nói với Ngô Khởi: “Thật là tráng lệ, núi sông hiểm trở như thế, đây đúng là của quý đối với nước Ngụy!”

Ngô Khởi cười cười, đáp rằng: “Quốc gia là dựa vào đức để trị, chứ không phải dựa vào địa thế hiểm yếu. Xưa, nước Tam Miêu có bên trái là hồ Động Đình, bên phải là con rạch lớn Bành Lãi. Nhưng vì họ không trau dồi đạo đức nhân nghĩa, nên bị Vua Đại Vũ diệt. Đô thành của vua Hạ Kiệt, bên trái là sông Hoàng Hà, sông Tế, bên phải là núi Thái Sơn, núi Y Khuyết ở phía Nam, núi Dương Trường ở phía bắc. Nhưng vua Hạ Kiệt khi chấp chính thì không nghĩ đến nhân ái. Cuối cùng ông ta bị vua Thương Thang bắt đi đày. Kinh đô của Trụ vương, bên trái là núi Mạnh Môn, bên phải là núi Thái Hành Sơn, núi Hằng Sơn ở phía bắc, sông Hoàng Hà chảy ở phía nam. Nhưng thời Trụ vương chấp chính thì không thi hành việc ân đức, nên Chu Vũ Vương đã diệt ông ta. Từ đó thấy rằng, giữ nước là ở chỗ giữ đức, chứ không phải ở chỗ địa thế hiểm trở. Nếu như quân vương ngài không làm tốt việc dùng đức trị nước, thì những người ngồi trên thuyền hiện giờ đều sẽ biến thành địch nhân của ngài vậy”. 

Ngụy Vũ Hầu đáp: “Nói rất hay!”

Điều này cho chúng ta thấy một bộ mặt khác của Ngô Khởi, ông là một người chuyên sửa người khác mà không tu sửa chính mình.

Ngô Khởi muốn quân vương học tập việc lấy đức trị nước, học tập nhân ái, thực thi rộng việc ân đức. Nhưng bản thân ông ta lại tham lam công danh lợi lộc, thậm chí còn “sát thê cầu tướng”. Sau khi làm tướng quân, Ngô Khởi lại tranh công danh với người khác, tham luyến nữ sắc. Thời còn theo học thầy Tăng Tử, mẫu thân của Ngô Khởi lâm trọng bệnh, ông ta đã không về nhà để hiếu dưỡng; mẫu thân mất rồi, ông ta cũng không về nhà chịu tang, không giữ hiếu. Tăng Tử đã khinh bỉ và đoạn tuyệt mối quan hệ thầy trò với ông ta. Có thể thấy Ngô Khởi quả thực đã không thể dùng đạo đức để ước thúc chính mình. Nhưng lại rất giỏi khi khuyên bảo người khác.

Ngụy Vũ hầu tán đồng ý kiến của ông, bèn phong Ngô Khởi làm Tây Hà thái thú. Ông trở nên rất nổi tiếng.

Ngụy Vũ hầu phong Điền Văn làm tể tướng. Ngô Khởi không bằng lòng, nhưng cuối cùng được Điền Văn giải thích nên ông chịu lý rằng tài năng của mình không bằng Điền Văn.

Sau khi Điền Văn qua đời, Công Thúc làm tể tướng, Công Thúc ganh ghét và muốn làm hại Ngô Khởi. Công Thúc bày mưu gièm pha ông với Ngụy Vũ Hầu, khiến Ngụy Vũ Hầu nghi ngờ và không còn tin tưởng ông. Ngô Khởi sợ bị tội nên phải bỏ đi nơi khác.

Sở Điệu vương vốn nghe tiếng Ngô Khởi là người hiền minh, nên mời ông đến, phong làm tể tướng.

Ngô Khởi nêu rõ pháp luật, ông tâu với vua Sở tiến hành cải cách trong nước: bỏ những chức quan không cần thiết, giảm bớt chu cấp có quý tộc nước Sở, dành tiền để hậu đãi nuôi dưỡng những người lính chiến đấu, làm cho quân đội mạnh lên, ông không theo thuyết của những người chỉ đi nói suông về việc “hợp tung” hay “liên hoành”.

Ngô Khởi cho rằng, muốn làm cho nước giàu binh mạnh thì phải biết đạo nuôi quân. Bàn về đạo nuôi quân, ông nói với vua Sở Điệu vương rằng: “Cái đạo nuôi quân, trước hết phải cấp lương cho hậu, thì họ mới chịu dốc lòng hết sức, nay trong triều có nhiều chức quan không cần thiết, nhiều người họ xa của đại vương cũng đang ăn hại ngân khố quốc gia, còn lương của binh sĩ thì chẳng được bao nhiêu, thế mà muốn bảo họ phải vì nước liều mình, chẳng cũng khó lắm ư! Nếu đại vương chịu theo kế của thần, thì hãy bỏ bớt những chức quan không cần thiết, giảm bớt lương những người họ xa, để đem bổng lộc mà cấp cho chiến sĩ, như thế mà nước không cường thịnh thì thần xin chịu tội chết”.

Sở Điệu vương hoàn toàn đồng ý với Ngô Khởi, kết quả là nước Sở ngày càng hùng mạnh, nhưng nhiều chức quan bị bãi bỏ, quyền lợi của quý tộc cũng bị giảm xuống còn rất thấp. Nhiều người vì mất đi lợi ích nên rất căm giận Ngô Khởi. Quyền lợi của quý tộc giảm xuống rất thấp, đa số kinh phí đều chuyển sang cho việc huấn luyện binh sĩ, tăng bổng lộc cho binh sĩ và các tướng. Tất nhiên, vì Ngô Khởi làm đại tướng, nên bổng lộc của ông ngày càng nhiều. Ngô Khởi đã đạt được nguyện vọng của đời mình, có danh có lợi. Quyền lực và địa vị của ông ở một độ cao chưa từng có. Vậy ông có quy ẩn như Tôn Vũ không, tất nhiên là không. Đối với ông, địa vị chính là tất cả.

Ngô Khởi giúp nước Sở giàu mạnh, phía nam bình định Bách Việt, phía bắc tiêu diệt nước Trần, nước Sái, chống lại Tam Tấn (Hàn, Triệu, Ngụy), phía tây đánh nước Tần.

Chư hầu lo lắng vì nước Sở hùng mạnh; trong khi đó quý tộc nước Sở bị đụng chạm quyền lợi, nên cũng muốn trừ khử Ngô Khởi.

Năm 381 TCN, Sở Điệu vương mất, các đại thần tôn thất làm loạn, tiến đánh Ngô Khởi. Một mình Ngô Khởi văn võ song toàn, nhưng chẳng thể chống lại được đám đông. Ông chạy đến nấp sau thi thể của Sở Vương. Những kẻ nổi loạn đã bắn tên và đâm chết Ngô Khởi, nhưng cũng bắn phải thi thể Điệu vương. Thế là một đại tướng lừng lẫy đã ra đi như thế.

Sau đó, thái tử Hùng Tang lên nối ngôi, tức là Sở Túc vương. Túc vương chôn cất Điệu vương, rồi hạ lệnh hành quyết tất cả những người bắn Ngô Khởi và bắn trúng cả thi thể của Sở Vương tiền nhiệm, hơn 70 người bị tru di.

Thái Sử Công Tư Mã Thiên đã nói trong Sử ký rằng: “Người đời khi khen tài năng quân sự, họ đều nói đến mười ba thiên binh pháp của Tôn Tử. Còn sách binh pháp của Ngô Khởi, thế gian nhiều người có, nhưng họ không bàn, mà chỉ bàn những sự việc các ông ấy làm. 

Tục ngữ nói: ‘Người làm được chưa chắc đã nói được; người nói được chưa chắc làm được’. Tôn Tẫn trù tính đối phó với Bàng Quyên thật rõ ràng. Thế nhưng vẫn không thể sớm tự lo cứu mình khỏi bị hình phạt. Ngô Khởi bàn với Vũ Hầu rằng: hình thế không quan trọng bằng đức; nhưng khi thi hành ở Sở, thì ông ta lại vì khắc bạc, ít ân đức, mà bỏ thân mình. Đáng thương thay!”


Có thể bạn quan tâm:

Bình luận

{"email":"Email address invalid","url":"Website address invalid","required":"Required field missing"}